Category Archives: Tax

Những người giàu nhất New Zealand trả thuế ít hơn những những người thu nhập thấp và trung lưu-Một nghiên cứu của Sở Thuế cho hay.

Một cuộc điều tra của Inland Revenue (Cục Thuế Nội địa) đã phát hiện ra rằng các gia đình giàu nhất của New Zealand chỉ trả khoảng dưới một nửa số tiền thuế trên mọi hình thức thu nhập so với phần lớn người dân New Zealand khác.

Sau khi Luật sửa đổi năm 2020 được thông qua, IRD đã có quyền yêu cầu các gia đình giàu nhất cung cấp thông tin thu nhập của họ. Sau hai năm điều tra, Dự án Nghiên cứu Cá nhân giàu có đã phát hiện ra các lợi nhuận vốn (capital gains) chưa được đánh thuế từ các doanh nghiệp, bất động sản và các khoản đầu tư khác đã làm méo mó hệ thống thuế, ủng hộ cho những người giàu nhất của đất nước.

Bộ trưởng IRD David Parker cho biết nghiên cứu “đột phá” này đã tiết lộ một “chênh lệch lớn giữa tỷ lệ thuế mà người dân New Zealand bình thường phải trả trên toàn bộ thu nhập của họ so với những người siêu giàu”.

Parker nói: “Chúng ta đã biết rằng một số người giàu nhất của New Zealand không trả thuế trên một số khoản thu nhập của họ, nhưng chúng ta chưa biết số tiền đó là bao nhiêu, cũng như tỷ lệ thuế hiệu quả (effective tax rate) của họ trên toàn bộ thu nhập.

“Các công dân của chúng ta như thợ thủ công, y tá, giáo viên, nhân viên lễ tân, thợ làm tóc, nhân viên vệ sinh, kỹ sư và chủ doanh nghiệp nhỏ đều phải trả một tỷ lệ thuế hiệu quả cao hơn nhiều so với những người Kiwi giàu hơn họ.”

Dự án đã thu thập thông tin từ 311 gia đình, chủ yếu có giá trị tài sản ròng hơn 50 triệu đô la, trong thời gian từ ngày 1 tháng 4 năm 2015 đến ngày 31 tháng 3 năm 2021.

Sau khi tính đến sở hữu các doanh nghiệp, bất động sản và các khoản đầu tư khác, cùng với lương của họ, tỷ lệ thuế hiệu quả trung bình của họ là 9,4%, so với 20,2% đối với những người New Zealand “trung bình”. Cả hai con số đều bao gồm các khoản thanh toán như trợ cấp và hưu trí, cũng như thuế giá trị gia tăng đã trả.

Inland Revenue cho biết một khác biệt lớn đó là người có thu nhập thấp đến trung bình có xu hướng kiếm nhiều tiền nhất thông qua thu nhập được trừ trực tiếp thuế (như làm công ăn lương) – tỷ lệ thuế lũy tiến phụ thuộc vào số tiền cá nhân kiếm được.

Cơ quan này nói rằng thu nhập chịu thuế cá nhân chỉ chiếm một “phần nhỏ của thu nhập kinh tế của các gia đình giàu nhất New Zealand”, với phần lớn đến từ “sự tăng giá trị (capital gains) của các doanh nghiệp, bất động sản và các danh mục tài chính mà họ sở hữu hoặc kiểm soát”, và tình hình thay đổi khi tất cả điều đó được tính đến, được gọi là economic income “thu nhập kinh tế” (incomes + capital gains)

Đó là tổng số của tất cả các cách mà một người có thể quy đổi ra tiền để chi tiêu, tại môt thời điểm bất kì.  Ví dụ, đến từ những thứ bạn mua hoặc sở hữu tăng giá trị, những thứ này có thể được bán để thu được tiền mua hàng và dịch vụ” – còn được biết đến là lợi nhuận vốn (capital gains).

Parker cho biết báo cáo này không phải là về việc truy đuổi những người trốn thuế hoặc “tấn công những người giàu có”.

“Những người giàu có của New Zealand thường là những người làm việc chăm chỉ và sáng tạo tuân thủ các quy định hiện tại. Họ đã hỗ trợ IRD trong cuộc điều tra này và tôi rất biết ơn điều đó.

“Công việc tuyệt vời trong cuộc khảo sát này sẽ cho phép các cuộc thảo luận về chính sách thuế được dựa trên cơ sở bằng chứng đáng tin cậy”, ông nói.

“Vào cuối năm nay, chúng tôi dự định giới thiệu một dự luật Nguyên tắc Thuế để đảm bảo rằng thông tin như thế này sẽ tiếp tục được thu thập và báo cáo một cách minh bạch.”

Đã có tỷ lệ đáp ứng 90% cho các thông báo pháp lý được phát hành bởi IRD đến 383 cá nhân.

IRD vẫn đang quyết định liệu có thực hiện bất kỳ hành động nào khác đối với những người không đáp lại.

Source: IRD

Rental properties ownership expenses

Thu nhập thu được từ bất động sản cho thuê phải chịu thuế và bạn có thể yêu cầu khấu trừ các chi phí liên quan đến thu nhập đó. Các quy tắc thuế khác nhau được áp dụng tùy thuộc vào tình huống.

Về mục đích thuế, việc cho thuê cho người thuê nhà ở khác với việc cung cấp chỗ ở cho khách ngắn ngày (short stay guests), người ở trọ (boarders) hoặc nhà dưỡng lão (care home residents), hoặc cung cấp chỗ ở cho sinh viên hoặc cho chính phủ thuế lại làm nhà trọ cho người có thu nhập thấp (Emergency Housing). Ngoài ra, các khoản lỗ từ cho thuê bất động sản có thể được giới hạn và chỉ có thể được khấu trừ từ thu nhập từ bất động sản hoặc được chuyển sang để khấu trừ từ thu nhập thuê bất động sản trong tương lai (Ring-fenced Losses)

Loại cấu trúc kinh doanh mà bạn chọn sẽ ảnh hưởng đến lượng thuế bạn phải trả, trách nhiệm pháp lý cá nhân của bạn và cuộc sống của doanh nghiệp của bạn, vì vậy quyết định đúng đắn là rất quan trọng. Có bốn cấu trúc chính mà bạn có thể lựa chọn để vận hành một doanh nghiệp cho thuê nhỏ:

  • Cá nhân (Sole trader)
  • Đối tác (Partnership)
  • Công ty (Company)
  • Trust

Sole Trader

  • Cá nhân đứng tên quản lý và sở hữu tài sản cho thuê.
  • Thu nhập chịu thuế bao gồm toàn bộ thu nhập chịu thuế của cá nhân và không thể được gán cho các thành viên trong gia đình (ví dụ như vợ chồng) trừ khi bằng cách trả lương phản ánh công việc đã thực hiện.
  • Chủ doanh nghiệp cá nhân phải chịu thuế theo tỷ lệ thuế cá nhân biên giới, tỷ lệ cao nhất là 39%, hiện áp dụng từ ngày 1 tháng 4 năm 2021.
  • Chủ doanh nghiệp cá nhân chịu trách nhiệm cá nhân đối với bất kỳ khoản nợ hoặc thua lỗ của doanh nghiệp và bất kỳ chủ nợ doanh nghiệp nào đều có quyền đòi lại tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp cá nhân (chẳng hạn như nhà gia đình) để thực hiện quyền thanh toán.
  • Tuổi thọ hoạt động của doanh nghiệp được giới hạn. Khi chủ doanh nghiệp cá nhân qua đời, tổ chức doanh nghiệp sẽ tự động kết thúc, trừ khi di chúc có quy định khác.

Partnership

  • Hai hoặc nhiều người vận hành tài sản cho thuê như một doanh nghiệp.
  • Thu nhập có thuế được chia đều giữa các đối tác. Các đối tác phải đóng thuế theo tỷ lệ cá nhân của mình trên thu nhập của đối tác.
  • Partnership không phải là một thực thể pháp lý riêng biệt khác với đối tác cá nhân (partners). Các thành viên của Partnership do đó chịu trách nhiệm cá nhân cho tất cả các khoản nợ của Partnership. Vì các partners là có trách nhiệm liên đới với nhau, việc lựa chọn đối tác là rất quan trọng.

Company

  • Một công ty là một thực thể pháp lý riêng biệt khác với những người sở hữu nó (cổ đông).
  • Tài sản cho thuê được sở hữu là một tài sản bởi công ty.
  • Công ty được đánh thuế riêng biệt với chủ sở hữu của nó với tỷ lệ thuế doanh nghiệp là 28%. Quan trọng là lưu ý rằng tỷ lệ thuế doanh nghiệp hiện tại thấp hơn 11% so với tỷ lệ cá nhân tối đa cao nhất là 39%.
  • Giám đốc công ty có nghĩa vụ pháp lý và nhiều nhiệm vụ và trách nhiệm pháp lý khác nhau. Tất cả các công ty mới được quản lý bởi Đạo luật Công ty 1993. Giám đốc có các quyền lực, nghĩa vụ và trách nhiệm này từ Đạo luật này. Họ phải hành động trung thực và tốt tính cho lợi ích của tất cả các cổ đông và phải thực hiện sự cẩn trọng, cẩn thận và kỹ năng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Nếu giám đốc công ty vi phạm các nhiệm vụ này, ông hoặc bà có thể bị phạt và / hoặc bị kiện tụng bởi cổ đông.
  • Nói chung, giám đốc công ty chỉ chịu trách nhiệm cho các khoản nợ của công ty đến số tiền còn lại của cổ phiếu của họ hoặc đến số tiền bất kỳ cam kết cá nhân nào mà họ đã đưa ra. Tuy nhiên, họ có thể chịu trách nhiệm cá nhân cho các khoản nợ của công ty nếu công ty tiếp tục kinh doanh khi đã phá sản.
  • Các Công ty Look-Through (LTCs) là các công ty có xử lý thuế khác so với các công ty bình thường:
  1. Lợi nhuận LTC được phân bổ trực tiếp cho cổ đông hằng năm (tức là không yêu cầu phân phối lợi nhuận dưới dạng cổ tức cho mục đích thuế), vì thế thuế sẽ được tính theo thuế lũy tiến cá nhân (Marginal personal tax rates),
  2. Thay đổi sở hữu cổ phiếu LTC có thể kích hoạt depreciation recovery (vì tài sản được coi là được sở hữu bởi cổ đông hiện hữu).

Family Trust

  • Một trust điển hình bao gồm một người đặt tài sản vào trust (Setlors), ít nhất một người quản trị (Trustee) (có quyền tự chủ để phân phối thu nhập và tài sản cho các người thụ hưởng của trust (Beneficiaries) và tiếp tục kinh doanh) và một trust Deed, tập hợp các quy tắc quản lý hoạt động của trust.
  • Trust là một hình thức cấu trúc kinh doanh phổ biến vì chúng là phương tiện linh hoạt để phân phối thu nhập và tài sản cho các thành viên gia đình khác nhau với hậu quả thuế có thể có lợi.
  • Trust được đánh thuế riêng với tỷ lệ là 33%.
  • Người quản trị (Trustee) được quản lý bởi bộ quy tắc ứng xử (Trust Deed) và Đạo luật Trusts 2019. Họ có nghĩa vụ quan trọng đối với các người hưởng lợi của trust (beneficiaries). Một người quản trị nên hoàn toàn nhận thức được nghĩa vụ của mình trước khi chấp nhận trở thành một trustee của một cái trust bất kì
  • Đôi khi việc sở hữu tài sản cho thuê bởi một family trust là là một lựa chọn không tồi. Tuy nhiên, nếu bất động sản cho thuê hay bị lỗ, việc sở hữu tài sản dưới cấu trúc cá nhân (sole trader) hoặc sử dụng cấu trúc LTC có thể được ưu tiên, vì những cổ đông đó sẽ có thể truy cập vào các khoản khoản lỗ (ngoại trừ các khoản lỗ bị giới hạn bởi ring-fenced losses). Một trust không thể phân bổ các khoản lỗ của nó cho các người hưởng lợi và phải tiếp tục giữ các khoản lỗ bù đắp cho các lợi nhuận trong tương lai.

Một số chi phí bạn có thể khấu trừ từ thu nhập cho thuê của mình:

  • Phí kế toán
  • Phí và hoa hồng của đại lý
  • Lãi suất trên khoản vay thế chấp bất động sản cho thuê, tuy nhiên từ ngày 1 tháng 10 năm 2021, chủ sở hữu bất động sản sẽ không được khai trừ lãi suất trên khoản vay cho các tài sản đầu tư bất động sản để ở mà họ mua vào hoặc sau ngày 27 tháng 3 năm 2021. Khấu trừ lãi suất trên khoản vay cho tài sản đầu tư bất động sản để ở mua trước ngày 27 tháng 3 năm 2021 sẽ được loại bỏ dần dần từ ngày 1 tháng 10 năm 2021 đến ngày 31 tháng 3 năm 2025. Lưu ý rằng một số trường hợp được miễn.
  • Phí pháp lý để sắp xếp khoản vay và phí chuyển quyền sở hữu để mua bất động sản cho thuê
  • Bảo hiểm trả nợ cho khoản vay thế chấp
  • Chi phí vận chuyển hoặc đi lại liên quan đến việc kiểm tra, cải thiện hoặc sửa chữa tài sản • Thuế và bảo hiểm
  • Sửa chữa và bảo trì (chi phí trên 1000 đô la để cải thiện tòa nhà có thể phải được ghi vào tài sản cố định),
  • Khấu hao của tài sản dùng để kinh doanh

Khấu hao đã được áp dụng lại cho các tòa nhà thương mại và công nghiệp từ năm tài chính 2020/21. Điều này không bao gồm cho cho thuê nhà ở nhưng có thể áp dụng cho nơi lưu trú ngắn hạn nếu được xem là thương mại. Nếu có bốn hoặc nhiều hơn các đơn vị riêng biệt trong cùng một tài sản và chúng được sử dụng cho lưu trú ngắn hạn (như Airbnb), việc khấu trừ cho khấu hao có thể được chấp thuận.

Ring-fencing of losses

Việc khóa lại các khoản lỗ của bất động sản nhà ở có thể hạn chế việc sử dụng các khoản lỗ thuê nhà để khấu trừ với thu nhập khác. Bạn có thể liên hệ với chúng tôi, để xác định tác động của các quy định này cho trường hợp cụ thể của bạn.

Thuế Giá trị gia tăng (GST)

Các tài sản bất động sản nhà ở được miễn thuế GST và do đó không có GST được tính trên tiền thuê nhà ở. Bạn không thể yêu cầu hoàn lại GST trên bất kỳ chi phí nào liên quan đến bất động sản nhà ở của bạn. Một lần nữa, cách xử lý cho chỗ ở ngắn hạn là khác biệt. Vui lòng liên hệ chúng tôi để biết thêm thông tin cho trường hợp cụ thể của bạn.

Cấu trúc kinh doanh đúng cho nhà ở cho thuế có thể rất quan trọng đối việc tối giảm thuế, không có một mô hình tối ưu cho tất cả các hoàn cảnh, vì vậy hãy nói chuyện với kế toán của bạn, để tìm ra mô hình tối ưu nhất.

 

Share Transfer vs Purchase of Business

Bạn chán cuộc sống làm công ăn lương, muốn xây dựng một thứ gì đó cho mình và con cháu sau này. Có hai lựa chọn chủ yếu cho bạn, trong trường hợp này:

  • Lập một công ty mới, xây dựng mọi thứ từ con số 0, bắt đầu từ những khách hàng đầu tiên. Con đường sẽ khá vất vả trong thời gian đầu, nhưng ưu điểm là không cần nhiều vốn và có khi còn xin được start up funding từ chính phủ. Mình sẽ nói thêm về phần này trong một bài khác.
  • Cách thứ hai là tìm một công ty đã hoạt động lâu năm (shop nails, nhà hàng, tiệm bánh, franchise etc), sau đó mua lại những công ty này. Ưu điểm là ngày đầu tiên làm chủ đã có thu nhập ổn định, còn khuyết điềm là bạn phải cần một số vốn khá lớn để bắt đầu.

Mua lại doanh nghiệp cũ lại chia ra làm hai cách chủ yếu: 1. Mua lai cổ phần từ chủ sở hữu cũ (Share Transfer), vẫn sử dụng tên công ty cũ. 2. Thành lập một công ty mới, sau đó mua lại tài sản (Purchase of business) của công ty đang hoạt động. Trong  bài viết hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu: Share Transfer vs Purchase of Business, lợi và hại từ góc nhìn của người bán (seller) và người mua (buyer)

Nhìn chung, cổ đông của một công ty hoạt động kinh doanh (seller) thường thấy việc bán cổ phần (share transfer) đơn giản hơn so với bán tài sản (sale of business). Từ quan điểm của người bán, bán cổ phần có nghĩa là khi thỏa thuận được thực hiện (settled), họ ngay lập tức nhận được tiền mặt từ việc bán cổ phần và không cần phải đối mặt với rắc rối trong việc giải thể công ty, sau đó mới nhận được tiền từ việc bán kinh doanh (sale of business).

Hơn nữa, việc bán kinh doanh (sale of business) có thể dẫn đến việc một phần thu nhập từ việc bán có thể chịu thuế (ví dụ:  thu nhập khôi phục giá trị tài sản cố định (depreciated recovery) etc), trong khi tất cả các số tiền phát sinh từ bán cổ phần thường không chịu thuế vì nó được coi là việc bán một khoản tài sản vốn.

Cuối cùng, việc bán cổ phần thường có nghĩa là mọi rủi ro kinh doanh hoặc thuế lịch sử liên quan đến công ty được chuyển sang người mua (trừ khi người bán cung cấp các bảo đảm hoặc bồi thường), điều này có thể giúp người bán thoát khỏi kinh doanh một cách sạch sẽ.

Từ quan điểm của người mua, thường người mua sẽ chọn mua kinh doanh thay vì mua cổ phần trong công ty hiện tại. Điều này chủ yếu là để họ không đối mặt với bất kỳ trách nhiệm tiềm ẩn nào có thể ẩn chứa trong công ty, tuy nhiên cũng có thể có những lý do khác. Ví dụ cụ thể, như một công ty mới thành lập, cần cung cấp nhiều thông tin hơn cho sở di trú so với một công ty lâu nắm (ví dụ business plan, cashflow forecast etc), nếu muốn trở thành accredited employers để tuyển lao động nhập cư. Vì vậy, người mua có thể cân nhắc chọn chuyển đổi cổ phần (share transfer) thay vì mua business, để tránh bị đứt gãy cung ứng lao động.

Khi mua business, người mua cần lưu ý đến các điều khoản trong hợp đồng thuê mặt bằng (lease agreement) vì đây là chi phí lớn nhất của một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhà hàng, quán ăn hay shop nails. Lease agreement được review bởi luật sư của bên mua.

Một điểm khá quan trọng, những người mới làm kinh doanh, thường ít quan tâm khi đi mua lại business. Đó là tỷ lệ chia giữa tài sản vô hình (intangible assets) và tài sản hữu hình (tangible assets) trên giá bán. Tỷ lệ giá bán (purchase price) phân bổ cho tài sản hữu hình (tangible assets) càng nhiều, thì càng có lợi về thuế trong dài hạn. Hãy nói chuyện với kế toán của bạn trước khi kí hợp đồng, để không bị mất đi những quyền lợi chính đáng của bạn.

Tuy nhiên, việc bán cổ phần (Share transfer) hoặc bán toàn bộ (hoặc chỉ một phần) của kinh doanh cơ bản sẽ là vấn đề đàm phán giữa các bên, Hãy thu thập nhiều thông tin nhất có thể, sau đó cân đối lợi và hại, để ra quyết định đúng đắn nhất.

Renting Short-stay accommodation in the home

Cho thuê Airbnd tại nhà? Hãy tìm hiểu về khía cạnh thuế trong trường hợp này

Thu nhập kiếm được từ tiền thuê nhà phải chịu thuế và bạn có thể yêu cầu khấu trừ các chi phí liên quan đến việc kiếm được thu nhập đó. Các quy tắc thuế khác nhau được áp dụng tùy thuộc vào từng trường hợp.

Đối với mục đích thuế, chỗ ở lưu trú ngắn ngày (short-stay accommodation) khác với chỗ ở được cung cấp cho người thuê nhà (tenants), người ở trọ (boarders), người ở nhà tình thương (care-home residents), chỗ ở cho sinh viên hoặc trường hợp khẩn cấp. Các quy tắc khác nhau tùy thuộc vào việc bạn đang tiếp đón khách tại nhà riêng của mình hay tại một khu nhà riêng biệt tại nơi bạn ở, chẳng hạn như đi ngủ ngoài trời (a sleepout) hay tại những ngôi nhà bạn dành để nghỉ dưỡng (your bach or your holiday home).

Nếu bạn yêu cầu được khấu trừ, Inland Revenue cần biết rằng bạn chỉ muốn claim các chi phí liên quan đến việc cho thuê và không yêu cầu các chi phí phát sinh do việc sử dụng trong hộ gia đình của bạn.

Tờ thông tin này sẽ nói cụ thể về trường hợp bạn cung cấp chỗ ở ngắn ngày ngay tại nhà bạn, thường là thông qua Airbnb. Thời gian lưu trú ngắn hạn có thể lên đến bốn tuần liên tục.

Một số thứ cần lưu ý

 

100 Nếu bạn cho khách thuê một phần hoặc toàn bộ ngôi nhà của mình dưới dạng chỗ ở ngắn hạn, bạn có thể claim standard costs, nhưng chỉ khi bạn cho khách thuê tối đa 100 đêm trong năm (tính từng phòng được thuê riêng).
5,000 Nếu số thuế đến hạn vào cuối năm của bạn nhiều hơn $5,000, bạn sẽ phải trả các khoản thuế tạm tính (provisional tax instalments) vào năm tiếp theo. Con số này đã tăng so với mức $2.500 trong năm tính thuế 2020/21.
60,000 Nếu bạn kiếm được hơn $60,000 một năm từ các hoạt động chịu thuế của mình, bạn phải đăng ký GST. Nếu bạn kiếm được ít hơn 60.000 đô la một năm, bạn có thể chọn đăng ký GST. Nếu bạn đã đăng ký GST, bạn sẽ không thể claim standard costs.

Tôi cần biết điều gì khi cho thuê nhà của mình?

Bạn có thể cho khách thuê một phần hoặc toàn bộ ngôi nhà của mình để làm chỗ ở ngắn hạn. Đây có thể là một hoặc nhiều phòng, hoặc toàn bộ ngôi nhà. Thu nhập từ việc cho thuê phải chịu thuế. Bạn có thể claim các chi phí liên quan đến việc cho thuê. Nếu bạn cho khách thuê tối đa 100 đêm trong năm, bạn có thể sử dụng phương pháp standard cost để tính toán chi phí. Nếu cho thuê hơn 100 đêm trong một năm, bạn có thể claim actual costs nhưng chỉ đối với những chi phí liên quan đến thu nhập từ việc cho thuê chỗ ở.

Phương pháp standard cost là gì?

Inland Revenue đặt ra standard cost mỗi năm dựa trên ước tính của họ về chi phí trung bình hàng đêm cho một chủ nhà. Thu nhập nhỏ hơn hoặc bằng mức standard costs được miễn thuế. Thu nhập cao hơn standard costs phải chịu thuế. Trong năm 2021–22, chi phí tiêu chuẩn hàng đêm (nightly standard-cost) là:

▪ $ 55 nếu là nhà của bạn, hoặc

▪ $ 50 nếu bạn thuê nhà.

 

Exempt income = Total room rental nights × nightly standard-cost

(Thu nhập được miễn thuế = Tổng số đêm cho thuê phòng x chi phí tiêu chuẩn hàng đêm)

 

Taxable income = Total rental income – Exempt income

(Thu nhập chịu thuế = Tổng thu nhập cho thuê – Thu nhập được miễn thuế)

 

Standard costs bao gồm những gì?

Chi phí tiêu chuẩn bao gồm:

▪ chi phí tài chính, tiền thuê nhà, tiền bảo hiểm và rates

▪ đồ ăn sáng, đồ đựng thức ăn, khăn trải giường, phòng tắm và thiết bị giặt là, dọn dẹp, điện, điện thoại, internet, phòng ngủ, và đồ nội thất gia đình nói chung mà bạn cung cấp cho khách thuê, và

▪ phí quảng cáo và phí dịch vụ cho chủ nhà.

Bạn không thể claim thêm các chi phí bổ sung (additional costs) nếu chúng có liên quan đến một item đã bao gồm trong standard costs. Nếu additional costs không được bao gồm trong standard costs, bạn chỉ có thể claim phần liên quan trực tiếp đến việc cho khách thuê chỗ ở. Bạn phải ghi lại các additional costs là gì.

Nếu bạn nhận được các khoản hoàn trả (reimbursements) cho các additional costs không được bao gồm trong standard costs (giả sử khách của bạn hoàn lại tiền cho bạn cho các cuộc gọi qua tổng đài), thì những khoản này không được tính là thu nhập. Đừng cố gắng yêu cầu khấu trừ cho các chi phí bạn đã được hoàn trả.

Ai KHÔNG THỂ sử dụng phương pháp standard cost?

Bạn không thể sử dụng phương pháp standard cost nếu trong cùng một năm:

▪ bạn đã cho thuê phòng hơn 100 đêm

▪ chỗ ở bạn dùng để cho thuê là một phần của hoạt động chịu thuế GST

▪ tài sản được giữ trong một quỹ tín thác (Trust) NGOẠI TRỪ trường hợp bạn đã thanh toán mọi chi phí cho tài sản đó (ví dụ như lãi suất thế chấp hoặc tiền thuê, tiền bảo hiểm, rates, tiền sửa chữa và bảo trì)

▪ bạn không phải là một thể nhân (ví dụ: bạn đang quản lý tài sản như một công ty)

▪ chỗ ở cũng đang được sử dụng cho các boarders

▪ bạn cũng đang yêu cầu claim actual costs trong việc cung cấp chỗ ở cho bạn cùng phòng (flatmates), hoặc

▪ bạn (hoặc bất kỳ ai khác trong nhà của bạn) cũng yêu cầu claim standard costs cho một số dịch vụ gia đình khác, chẳng hạn như cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em.

Nếu tôi cũng nhận được một khoản Accommodation supplement từ MSD thì sao?

Nếu bạn nhận được một khoản accommodation supplement từ Ministry of Social Development, điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc tính toán standard costs. Standard costs (và thu nhập được miễn thuế) sẽ bằng:

 

(Total room rental nights × nightly standard-cost) – accommodation supplement

(Tổng số đêm cho thuê phòng × chi phí tiêu chuẩn hàng đêm) – accommodation supplement

Accommodation supplement trong công thức này được phân bổ cho các đêm cho thuê phòng như sau:

 

Tổng accommodation supplement × (Tổng số đêm cho thuê phòng/
365)

Nếu bạn nhận được bất kỳ hỗ trợ nào từ MSD, bạn cần cho họ biết về thu nhập cho thuê của bạn.

Nếu tôi không muốn sử dụng phương pháp standard cost? Claim actual costs

Nếu bạn cho khách thuê trên 100 đêm trong một năm, bạn phải sử dụng phương pháp actual cost. Nhưng nếu bạn thuê dưới 100 đêm, bạn vẫn có thể chọn claim dựa trên actual cost. Theo phương pháp này, tất cả thu nhập của bạn từ việc cho thuê là thu nhập chịu thuế và phải được kê khai.

Các chi phí được khấu trừ 100%

Các chi phí chỉ liên quan đến hoạt động cho thuê của bạn được khấu trừ 100%:

▪ chi phí quảng cáo, hoa hồng hoặc phí trả cho một nền tảng để cho thuê phòng hoặc nhà của bạn

▪ supplies chỉ được sử dụng bởi khách trả tiền

▪ phí bảo hiểm hoặc rates phải trả thêm (hơn mức bạn thường phải trả) vì bạn cho thuê tài sản, và

▪ chi phí sửa chữa những hư hỏng trong khi có thu nhập chịu thuế ngoại trừ những hao mòn thông thường.

Trong các tình huống mà bạn có thể xác định các khoản phí phát sinh trong khoảng thời gian bạn chuyển ra ngoài và thuê toàn bộ ngôi nhà của mình, bạn có thể claim các chi phí liên quan như những chi phí được khấu trừ toàn phần.

Apportioning mixed expenses

Các chi phí khác sẽ chỉ được khấu trừ một phần vì chúng cũng liên quan đến việc sử dụng cho mục đích cá nhân của bạn. Chúng cần được phân bổ và bao gồm:

▪ tiền điện

▪ tiền internet

▪ lãi suất vay mua nhà (lưu ý rằng các quy tắc khấu trừ tiền lãi đã thay đổi – chúng tôi có thể cùng bạn xem xét vấn đề này để xác định xem điều này ảnh hưởng đến bạn như thế nào)

▪ bảo hiểm tài sản và rates (nếu bạn phải trả nhiều hơn vì bạn cho thuê tài sản), và

▪ phí sửa chữa và bảo trì.

Cách tính thông thường để phân bổ là dựa trên diện tích sàn và số đêm thuê:

▪ Được khấu trừ 100%: các khu vực cho khách thuê sử dụng riêng trong thời gian lưu trú (phòng và phòng riêng của họ), và

▪ Được khấu trừ 50%: các khu vực chung cho cả bạn và khách thuê (chẳng hạn như sảnh tiếp khách và khu vực ăn uống).

Các khoản khấu trừ sẽ bằng:

 

Khấu trừ cho khu vực sử dụng riêng % = 100 × (Khu vực sử dụng riêng của khách thuê/ × (Số đêm cho thuê/
Tổng diện tích) 365)
+
Khấu trừ cho khu vực sử dụng chung% = 50 × Khu vực sử dụng chung × Số đêm cho thuê
Tổng diện tích 365

Nếu bạn cho thuê nhà trong một khoảng thời gian và khách thuê có quyền sử dụng toàn bộ ngôi nhà, bạn không cần tính đến diện tích sàn. Các khoản khấu trừ của bạn sẽ dựa trên số đêm ngôi nhà được cho thuê.

Trong một số tình huống, bạn cần phải quan tâm đến số đêm có sẵn phòng để cho thuê cũng như số đêm thực sự cho thuê. Một ví dụ là khi bạn cung cấp chỗ ngủ và bữa sáng với tỷ lệ thuê cao ở chính ngôi nhà của mình. Bạn sẽ phải chứng minh được rằng khi nhà không được cho thuê, bạn hoàn toàn không sử dụng nó, thậm chí không phải để lưu trữ đồ đạc. Bạn phải ghi lại những thời điểm khi phòng còn trống, sẵn sàng để cho thuê. Bạn cần phải chứng minh bạn đã có những hoạt động tiếp thị thường xuyên, tích cực, giá thuê ở mức giá thị trường và chứng minh được rằng những phòng đó có sẵn, còn trống để sẵn sàng cho thuê vào đúng thời điểm đã ghi chép. Trong trường hợp này, bạn hãy thay thế “số đêm đã cho thuê” bằng “số đêm đã cho thuê + số đêm có sẵn cho thuê” trong các phép tính ở trên.

Khấu trừ cho chi phí khấu hao của chattels

Bạn cũng có thể yêu cầu khấu trừ cho chi phí khấu hao của chattels. Chattel có thể bị hao mòn, giảm giá trị trong khi được sử dụng để kiếm thu nhập. Nếu chúng chỉ được sử dụng bởi khách thuê (ví dụ như chattels trong phòng ngủ mà bạn chỉ sử dụng để cho thuê), khấu hao sẽ được khấu trừ 100%. Nếu các chattel nằm trong các khu vực chung nhưng bạn đã cho thuê toàn bộ căn nhà thì khoản khấu hao sẽ được khấu trừ 100% cho khoảng thời gian đó. Nếu chattels ở các khu vực chung và trong khi cho thuê, bạn cũng ở đó, bạn chỉ có thể claim phần có liên quan đến thu nhập. Có một công thức cụ thể cho điều này.

Trước tiên, hãy tính depreciation losses trong năm cho chattels. Sau đó tính ra phần được khấu trừ.

Là một phần của các biện pháp giảm thuế trong thời kỳ COVID-19, Chính phủ đã điều chỉnh ngưỡng tài sản có giá trị thấp để tính khấu hao, cho phép ghi vào chi phí ngay lập tức các tài sản có giá thấp hơn mức ngưỡng. Đối với các tài sản được mua vào hoặc sau ngày 17 tháng 3 năm 2021, ngưỡng này là $1,000. Đối với các item có giá trị giảm xuống dưới ngưỡng, khoản lỗ khấu hao (depreciation loss) là nguyên giá của item đó. Đối với các item là một phần của set tài sản được mua cùng lúc từ cùng một nhà cung cấp, mức ngưỡng sẽ áp dụng cho cả set đó. Nếu ở trên ngưỡng, các item phải được khấu hao theo phương pháp giảm dần giá trị (diminishing value method) hoặc phương pháp đường thẳng (straight-line method).

Khi bạn đã biết khoản lỗ khấu hao trong năm, bạn có thể tính phần có thể claim. Công thức tính các khoản khấu trừ dựa trên tỷ lệ số đêm mà nơi ở được thuê hoặc có sẵn để cho thuê so với tất cả các đêm trong năm mà không gian có sẵn cho bất kỳ mục đích nào (thay vì tổng số đêm trong năm):

 

Phần được khấu trừ = Lỗ khấu hao × (Số đêm nơi ở được cho thuê hoặc sẵn sàng để cho thuê/
Số đêm chattels được sử dụng vì bất kỳ mục đích nào)

Tôi có cần nộp tờ khai thuế không?

Nếu thu nhập của bạn từ việc cho thuê không vượt quá standard costs, bạn không cần phải khai thuế. Nếu có vượt quá, bạn cần phải tờ khai thuế cho khoản thu nhập không được cover bởi standard costs. Nếu bạn muốn claim actual costs, bạn cần phải khai báo tất cả thu nhập từ việc cho thuê chỗ ở ngắn ngày và tất cả các chi phí liên quan đến việc cho thuê.

Nếu tôi đồng sở hữu căn nhà thì sao?

Nếu bạn cùng sở hữu (hoặc thuê) căn nhà, thu nhập cần được phân chia hợp lý giữa các chủ sở hữu khi kê khai thu nhập trong tờ khai thuế.

Nếu tài sản được sở hữu trong một quỹ ủy thác, thì điều này sẽ phức tạp hơn.

Nếu bạn thuê nhà từ một người thân (không phải là tín chấp) và sử dụng nó để kiếm thu nhập, bạn phải trả một khoản tiền thuê nhà tương xứng trong phạm vi sử dụng để kiếm thêm thu nhập. Nếu không, Inland Revenue có thể xem xét điều này và đánh giá lại khoản thuế đến hạn của bạn dựa trên giá trị thị trường.

Bạn cần phải lưu giữ hồ sơ ghi chép

Cho dù bạn sử dụng phương pháp standard cost hay actual cost để yêu cầu các khoản khấu trừ, bạn cần phải lưu giữ hồ sơ để hỗ trợ cho yêu cầu của mình. Như bạn chưa biết đến cuối năm tính thuế liệu bạn có muốn hoặc có đủ điều kiện để sử dụng phương pháp standard cost hay không, hãy đảm bảo rằng bạn có đầy đủ ghi chép về:

▪ tổng số đêm cho thuê phòng (tính cho từng phòng được thuê riêng)

▪ tổng thu nhập từ việc cho thuê, và

▪ các chi phí.

Source: IRD

Renting to boarders in the home and tax implications

Đầu tiên chúng ta cần hiểu khái niệm boarder là gì. Boarder có thể hiểu là người thuê chỉ một phòng thay vì thuê cả căn nhà và chia sẻ không gian chung như phòng khách, bếp, sân vườn với các boarders khác (hoặc chủ nhà). Trong tờ thông tin này, boarder thuê phòng trong căn hộ mà chủ nhà đang ở.

Thu nhập kiếm được từ tiền thuê nhà phải chịu thuế và bạn có thể yêu cầu khấu trừ các chi phí liên quan đến thu nhập đó. Các quy tắc thuế khác nhau được áp dụng tùy thuộc vào từng trường hợp.

Đối với mục đích tính thuế, việc cho boarders thuê phòng trong căn hộ bạn đang ở khác với cho thuê ngắn hạn (short-stay accommodation), cho thuê nhà không chung chủ, nhà tình thương (care home residents), chỗ ở cho sinh viên hoặc trường hợp khẩn cấp.

Tờ thông tin này xét tới các dịch vụ tư nhân được cung cấp khi boarder thuê phòng tại nhà của bạn. Boarder là người trả cho bạn tiền thuê chỗ ở. Trẻ em dưới năm tuổi ở cùng với boarder không được tính là một boarder riêng biệt. Các dịch vụ nội trú thường được cung cấp cho boarder, bao gồm chỗ ở, các bữa ăn thông thường và các dịch vụ khác điển hình trong một hộ gia đình (ví dụ như giặt là).

Một số con số cần lưu ý

 

207 Số tiền chi phí tiêu chuẩn hàng tuần (weekly standard-cost amount) được Inland Revenue xác định cho năm thu nhập 2021–22, liên quan đến chi phí trực tiếp, có thể điều chỉnh CPI. Ngoài ra còn có các chi phí tiêu chuẩn cho chi phí nhà và giao thông hàng năm, được tính theo công thức.
5,000 Nếu tiền thuế đến hạn tính ở thời điểm cuối năm của bạn nhiều hơn $5,000, bạn sẽ phải trả tiền thuế tạm tính (provisional tax) vào năm tiếp theo. Con số này đã tăng từ $2,500 ở năm tính thuế 2020/21.
60,000 Nếu bạn kiếm được hơn $60,000 một năm từ các hoạt động chịu thuế của mình, bạn sẽ phải đăng ký GST. Nếu bạn kiếm được ít hơn $60,000 một năm, bạn có thể chọn đăng ký GST. Nếu bạn đã đăng ký GST, bạn sẽ không thể claim standard costs.

Điều cần biết khi cho thuê phòng trong căn hộ bạn đang ở (cho thuê chung chủ)

Thu nhập từ tiền thuê của boarders phải chịu thuế. Bạn có thể claim các chi phí liên quan đến việc kiếm được thu nhập đó. Tuy nhiên, hầu hết các chi phí thực tế (actual costs) của bạn sẽ chỉ được khấu trừ một phần vì chúng liên quan đến cả chi phí riêng của gia đình bạn và từ thu nhập cho thuê nhà.

Nếu bạn đạt đủ điều kiện và chọn sử dụng phương pháp chi phí tiêu chuẩn (standard costs method) của Inland Revenue, phương pháp đó có thể đơn giản hơn cho bạn vì thu nhập bằng hoặc thấp hơn standard costs sẽ được miễn thuế. Người đóng thuế có thể claim standard costs thay vì claim actual costs của họ.

Nếu bạn muốn claim khấu trừ cho actual costs, bạn cần phải kê khai tất cả thu nhập từ việc cho boarders thuê nhà. Inland Revenue sẽ muốn biết rằng bạn chỉ muốn claim các chi phí liên quan đến thu nhập chứ không phải các chi phí phát sinh do mục đích cá nhân của bạn. Bạn cần phân bổ chi phí của mình theo thời gian bạn có boarders thuê nhà và số boarders trung bình so với tổng số người sống trong nhà của bạn.

Phương pháp standard cost cho dịch vụ cho thuê chung chủ là gì?

Inland Revenue đặt ra các standard costs mà họ coi là chi phí hợp lý trong khi cho thuê nhà chung chủ. Thu nhập kiếm được bằng hoặc dưới mức standard costs sẽ được miễn thuế. Thu nhập cao hơn standard costs sẽ phải chịu thuế.

Từ đầu năm tính thuế 2019/20, standard costs bao gồm:

▪ chi phí tiêu chuẩn hang tuần (weekly standard-cost) cho mỗi boarder, một số tiền định sẵn được điều chỉnh hàng năm theo CPI ($207/tuần cho năm thu nhập 2021–22)

▪ chi phí tiêu chuẩn nhà ở hàng năm (annual housing standard-cost), được tính theo công thức của Inland Revenue, và

▪ chi phí tiêu chuẩn cho việc di chuyển hàng năm (annual transport standard-cost), được tính theo công thức của Inland Revenue.

 

Ai KHÔNG THỂ sử dụng phương pháp standard cost?

Bạn không thể sử dụng phương pháp standard cost, trong cùng một năm:

▪ bạn có hơn bốn boarders cùng một lúc

▪ chỗ ở cho thuê là một phần của hoạt động chịu thuế GST

▪ bạn không phải là một cá nhân (ví dụ bạn đang quản lý tài sản như một công ty)

▪ tài sản được giữ trong Trust NGOẠI TRỪ trường hợp bạn:

– đã thanh toán tất cả các chi phí liên quan đến chi phí tiêu chuẩn nhà ở hàng năm (annual housing standard-cost), hoặc

– không bao gồm chi phí tiêu chuẩn nhà ở hàng năm (annual housing standard-cost) trong standard cost của bạn

▪ chỗ ở cũng đang được sử dụng để cung cấp nơi ở ngắn hạn

▪ bạn cũng đang claim standard costs cho một số loại hình cung cấp chỗ ở khác trong nhà của bạn, hoặc

▪ bạn đang claim bất kỳ khoản khấu trừ nào.

Nếu bạn đủ điều kiện để sử dụng phương pháp standard cost, bạn vẫn có thể chọn không áp dụng nó và thay vào đó là claim actual costs.

Standard cost bao gồm những gì?

  1. Weekly standard-cost bao gồm các chi phí trực tiếp như hóa đơn ăn uống và gia dụng, các vật dụng và dịch vụ thường được cung cấp cho boarders: thực phẩm, khăn trải giường, dịch vụ giặt là và dọn dẹp, điện, điện thoại, internet, sử dụng chattels trong phòng ngủ và đồ nội thất chung của gia đình, và các chi phí phát sinh chẳng hạn như quà tặng, các hoạt động giải trí và thư giãn mà bạn có thể cung cấp.

Nếu thu nhập từ boarders của bạn không nhiều hơn weekly standard-cost cho mỗi boarder, bạn sẽ không phải hoàn trả bất kỳ thu nhập nào từ tiền thuê của boarders hoặc thực hiện bất kỳ phép tính nào. Thu nhập này được miễn thuế.

  1. Annual housing standard-cost bao gồm các chi phí liên quan tới việc sử dụng căn nhà để cho thuê: chi phí tài chính (ví dụ lãi suất vay mua nhà), tiền thuê nhà, tiền bảo hiểm, rates, tiền sửa chữa và bảo trì. Điều này được tính toán khác nhau tùy thuộc vào quyền sở hữu của ngôi nhà.

 

Nếu Chi phí cho căn nhà đó tính dựa trên (Cost of the home)
Bạn sở hữu căn nhà đó 4% chi phí của ngôi nhà (bao gồm tất cả các khoản capital improvements)
Bạn thuê căn nhà đó tổng số tiền thuê nhà bạn đã trả trong năm
Căn nhà đó đang ở trong quỹ ủy thác (a trust) tổng số tiền Trust đã trả trong năm cho chi phí tài chính hoặc tiền thuê nhà, tiền bảo hiểm, rates, tiền sửa chữa và bảo trì

Nếu bạn nhận được một khoản accommodation supplement từ Ministry of Social Development, điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc tính toán annual housing standard-costs của bạn. Chi phí của căn nhà đó được xác định dựa trên bất kỳ khoản accommodation supplement nào nhận được và sau đó nhân với tỷ lệ phần trăm số boarders trên tổng số người ở (occupants) và với số tuần đủ trong năm mà bạn đã cung cấp dịch vụ cho thuê nhà chung chủ chia cho tổng số tuần trong năm:

 

 

(cost of the home − accommodation supplement) × total boarders % × boarding weeks
total occupants 52

Trẻ em dưới năm tuổi không được tính là một occupant trong nhà. Trẻ em từ 5-18 tuổi không được tính là occupant nếu không có phí riêng cho việc giữ trẻ. Nếu bạn có một shared-care agreement cho một đứa trẻ trên 5 tuổi hoặc có một đứa trẻ đang ở trường nội trú hoặc ở nơi khác trong năm, hãy căn cứ vào phần trăm số ngày trong năm mà đứa trẻ thường ở với bạn. Gia đình đến thăm  hoặc khách đến thăm và ở với bạn ngắn ngày và miễn phí cũng không được tính là occupant.

Nếu trong một năm bạn có cho một số boarders thuê nhà, nhưng họ ở trong các khoảng thời gian khác nhau, hãy sử dụng công thức trên riêng biệt cho từng boarder. Cộng các số tiền riêng biệt trên để xác định tổng annual housing standard-cost.

  1. Annual transport standard-cost bao gồm các chi phí cho nhiên liệu, bảo hiểm, đăng ký, warrant of fitness, sửa chữa, bảo dưỡng, và khấu hao. Nó được tính như thế này:

 

Annual transport standard-cost = kilometre rate × kilometres travelled

The kilometre rate do Inland Revenue đặt ra. Số kilometres đã đi (kilometres travelled) được tính cho những chuyến đi mà mục đích chính là đưa đón những boarders, mặc dù bạn cũng có thể chở những người khác cùng lúc. Trong trường hợp mục đích chính không phải là đưa đón boarders, bạn không thể phân bổ hoặc claim số km đã đi cho những chuyến đi đó.

Để bao gồm yếu tố standard cost này, thỏa thuận cho thuê của bạn (boarding agreement) phải bao gồm yêu cầu cung cấp phương tiện di chuyển cho boarders. Hãy có một cuốn sổ nhật ký để ghi lại số km có thể claim cho năm đó. Duy trì việc ghi nhật ký trong thời gian ba tháng thử nghiệm là không đủ trừ khi nó cho ra kết quả đại diện chính xác.

Tất cả những mục này phải được tính bao gồm GST, nếu có.

Bạn sẽ không thể claim thêm chi phí nếu chúng liên quan đến một item đã được bao gồm trong bất kỳ thành phần standard costs nào. Nếu số tiền bạn tính cho standard costs vượt quá tổng thu nhập của bạn từ tiền thuê của boarders, bạn sẽ không thể claim losses

Nếu bạn nhận được các khoản hoàn trả (reimbursements) cho các chi phí bổ sung không được bao gồm trong standard costs (giả sử, trong trường hợp boarder hoàn trả cho bạn vé tàu hàng tháng mà bạn đã mua cho họ), thì những khoản này không được tính là thu nhập. Nhưng cũng đừng cố gắng yêu cầu khấu trừ cho các chi phí bạn đã được hoàn trả.

Điều gì xảy ra nếu tôi cũng nhận được một khoản accommodation supplement hoặc phúc lợi khác?

Nếu bạn nhận được một khoản accommodation supplement từ Ministry of Social Development, điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc tính toán annual housing standard-costs như đã nêu ở trên.

Nếu bạn nhận được bất kỳ hỗ trợ nào từ MSD hoặc từ WINZ, bạn cần cho họ biết về thu nhập của bạn từ các boarders.

Điều gì xảy ra nếu tôi không muốn sử dụng phương pháp standard cost mà muốn dùng phương pháp actual costs?

Nếu bạn có từ 5 boarders trở lên, bạn phải sử dụng phương pháp actual cost. Nếu bạn có tối đa 4 boarders, bạn vẫn có thể chọn claim actual costs. Theo phương pháp này, tất cả thu nhập của bạn từ việc cho thuê là thu nhập chịu thuế và phải được kê khai. Để sử dụng phương pháp này, bạn cần:

▪ lưu giữ đầy đủ hồ sơ về thu nhập thực tế của bạn

▪ lưu giữ đầy đủ hồ sơ về chi phí của bạn, và

▪ hoàn thành tờ khai thuế IR3 hàng năm để return thu nhập claim chi phí thực tế phát sinh.

Các chi phí được khấu trừ 100%

Các chi phí chỉ liên quan đến việc cung cấp dịch vụ cho thuê nhà được khấu trừ 100%:

▪ chi phí quảng cáo, tiền hoa hồng hoặc phí trả cho một nền tảng để cho thuê phòng

▪ supplies chỉ được sử dụng bởi boarders

▪ additional insurance và rates paid (nhiều hơn mức bạn thường phải trả) vì bạn còn để chúng cho boarders hưởng, và

▪ tiền sửa chữa những hư hỏng trong khi earn thu nhập chịu thuế, ngoại trừ những hao mòn thông thường.

Phân bổ các chi phí hỗn hợp

Các chi phí khác sẽ chỉ được khấu trừ một phần vì chúng cũng liên quan đến việc sử dụng nhà cho mục đích cá nhân của bạn. Chúng cần được phân bổ và bao gồm:

▪ hàng tạp hóa và các sản phẩm tẩy rửa gia dụng

▪ tiền điện

▪ tiền internet

▪ lãi suất cho vay mua nhà mặc dù từ ngày 1 tháng 10 năm 2021, các quy định về giới hạn lãi suất bắt đầu được áp dụng (hãy hỏi chúng tôi để biết thêm thông tin về điều này)

▪ tiền bảo hiểm tài sản và các rates (nếu bạn phải trả nhiều hơn vì bạn cho thuê tài sản), và

▪ tiền sửa chữa và bảo trì.

Cách tính thông thường được sử dụng dựa trên diện tích sàn và số tuần cho boarders thuê:

▪ Được khấu trừ 100%: các khu vực dành riêng cho boarders trong thời gian lưu trú (phòng ngủ), và

▪ Được khấu trừ 50%: những khu vực chung cho cả bạn (chủ nhà) và những boarders ở cùng bạn (chẳng hạn như sảnh phòng khách và khu ăn uống, giặt là, và nhà bếp).

Các khoản khấu trừ sẽ bằng:

deductions for exclusive areas = 100 × areas for boarders’ exclusive use × boarding weeks
total floor area 52
+            
deductions for common areas = 50 × areas in common with boarders × boarding weeks
total floor area 52

Khấu trừ cho chi phí khấu hao của chattels

Bạn cũng có thể yêu cầu khấu trừ cho chi phí khấu hao của chattels. Chattel có thể bị hao mòn, giảm giá trị trong khi được sử dụng để kiếm thêm thu nhập. Nếu chúng chỉ được sử dụng bởi boarders (ví dụ như chattels trong phòng ngủ mà bạn chỉ sử dụng cho boarders), khấu hao sẽ được khấu trừ 100%. Nếu chúng nằm trong các khu vực sử dụng chung, bạn chỉ có thể claim dựa trên tỷ lệ liên quan đến phát sinh thu nhập.

Đầu tiên, hãy tính toán khoản lỗ khấu hao (depreciation loss) trong năm cho chattels. Sau đó tính ra phần được khấu trừ.

Là một phần của các biện pháp giảm thuế trong thời kỳ COVID-19, Chính phủ đã điều chỉnh ngưỡng tài sản có giá trị thấp để tính khấu hao, cho phép ghi vào chi phí ngay lập tức các tài sản có giá thấp hơn mức ngưỡng. Đối với các tài sản được mua vào hoặc sau ngày 17 tháng 3 năm 2021, ngưỡng này là $1,000. Đối với các item có giá trị giảm xuống dưới ngưỡng, khoản lỗ khấu hao (depreciation loss) là nguyên giá của item đó. Đối với các item là một phần của set tài sản được mua cùng lúc từ cùng một nhà cung cấp, mức ngưỡng sẽ áp dụng cho cả set đó. Nếu ở trên ngưỡng, các item phải được khấu hao theo phương pháp giảm dần giá trị (diminishing value method) hoặc phương pháp đường thẳng (straight-line method).

 

Khi bạn đã biết khoản depreciation loss trong năm, bạn có thể tính toán tỷ lệ mà bạn có thể claim. Công thức tính các khoản khấu trừ dựa trên tỷ lệ số tuần cho thuê theo tính trên tất cả các tuần trong năm:

 

Deductions = Depre loss × Boarding weeks  
52  

Tôi có cần phải nộp tờ khai thuế không?

Nếu thu nhập của bạn từ việc cho thuê nhà không vượt quá standard costs, bạn không cần phải khai thuế. Nếu có, bạn cần phải khai báo thu nhập vượt quá standard costs. Nếu bạn muốn claim actual costs, bạn cần phải khai báo tất cả thu nhập từ tiền thuê của boarders và các chi phí liên quan đến việc cho thuê nhà.

Điều gì xảy ra nếu tôi đồng sở hữu căn nhà đó?

Nếu bạn đồng sở hữu (hoặc thuê) căn nhà, thu nhập cần được phân chia hợp lý giữa các chủ sở hữu khi kê khai thu nhập trong tờ khai thuế.

Tôi có thể tính trước xem mình có nghĩa vụ thuế trước hay không?

Bạn có thể tính trước xem bạn có khả năng có thu nhập chịu thuế hay không nếu bạn định cho thuê một vài phòng trong nhà bạn. Nếu thu nhập chịu thuế dự tính là đáng kể, thì bạn cũng có thể lập kế hoạch thanh toán thuế để giảm thiểu bất kỳ use of money interest có thể phải trả khi đến hạn thuế.

Bạn định tính phí cho thuê cao hơn hay thấp hơn weekly standard costs? Nếu nó thấp hơn, thu nhập từ cho thuê của bạn sẽ được miễn thuế.

Nếu nó cao hơn, hãy áp dụng công thức cho annual housing standard-cost và tính ra số tiền đó sẽ là bao nhiêu mỗi tuần. Nếu số tiền thuê ở mà bạn định thu vẫn cao hơn và việc cung cấp phương tiện đi lại là một phần trong thỏa thuận cho thuê của bạn và bạn có thể ước tính số km sẽ đi, hãy áp dụng công thức cho số tuần bạn định cho thuê.

 

Weekly standard-cost + annual housing standard-cost + annual transport standard-cost
no. of weeks boarding services provided no. of weeks boarding services provided

Nếu số tiền thuê mà bạn định thu vẫn cao hơn, thì khoản chênh lệch là thu nhập chịu thuế có thể xảy ra của bạn. Hãy nhớ rằng cuối cùng có thể bạn vẫn nợ thuế đối với một số thu nhập từ việc cho thuê của mình nếu:

▪ số occupants trong nhà của bạn không phải là boarders (và trên 5 tuổi) tăng lên trong năm

▪ tiền thuê nhà của bạn giảm trong năm (nếu bạn thuê nhà), và

▪ bạn bắt đầu nhận được một khoản accommodation supplement trong năm, hoặc accommodation supplement mà bạn đã nhận được tăng lên.

Khuyến nghị

Cho dù bạn sử dụng phương pháp standard cost hay actual cost để claim các khoản khấu trừ, bạn cần phải lưu giữ hồ sơ để hỗ trợ cho yêu cầu của mình. Nếu bạn chưa biết cho đến cuối năm tính thuế liệu bạn có muốn hay có thể sử dụng phương pháp standard cost hay không, hãy đảm bảo rằng bạn có đầy đủ hồ sơ về:

▪ số tuần trong năm mà bạn có cho boarders thuê nhà

▪ tổng thu nhập từ tiền thuê của boarders

▪ số lượng occupants khác trong nhà của bạn trong năm

▪ capital improvements bạn đã thực hiện hoặc số tiền thuê nhà bạn đã trả trong năm

▪ bạn đã đi bao nhiêu km trong năm bằng một chiếc xe mà bạn phải trả chi phí vận hành với mục đích chính của các chuyến đi đều liên quan đến đưa đón boarders, và

▪ các chi phí liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ cho boarders và, nếu bạn có thể, hãy nêu chi tiết về việc liệu các chi phí đó chỉ liên quan đến việc cho thuê nhà hay chúng là chi phí hộ gia đình bao gồm cả gia đình bạn và boarders.

Lưu ý thông tin bên trên chỉ đúng tại thời điểm hiện tại, hãy nói chuyện với kế toán của bạn hoặc với chúng tôi, nếu bạn có thắc mắc.

 

Home used as office expenses

Chi phí văn phòng tại nhà

Thông thường, việc claim khấu trừ cho chi phí văn phòng tại nhà vốn chỉ áp dụng với các hộ kinh doanh cá thể (sole traders). Tuy nhiên hiện nay, sau các đợt lockdown và mọi người quan tâm hơn tới work-life balance, ngày càng nhiều doanh nghiệp cho nhân viên làm việc full-time hoặc part-time ở nhà. Điều này dẫn tới câu hỏi liệu các công ty này có được claim chi phí văn phòng tại nhà.

Đối với sole traders

Khi sole traders sử dụng một phần nhà của mình để hoạt động kinh doanh, họ có thể nhận được khấu trừ một phần cho các khoản chi liên quan tới việc sử dụng nhà cho mục đích kinh doanh. Các khoản chi bao gồm:

  • Tiền sưởi
  • Tiền điện chiếu sáng
  • Rates
  • Bảo hiểm
  • Tiền lãi/ tiền thuê thế chấp
  • Bảo hiểm nhà và nội thất
  • Chi phí sửa chữa, bảo dưỡng
  • Chi phí thuê điện thoại

Phần chi phí được khấu trừ được xác định dựa trên diện tích sử dụng cho mục đích kinh doanh, thể hiện theo phần trăm tổng diện tích của ngôi nhà:

Diện tích sử dụng cho mục đích kinh doanh/ Tổng diện tích nhà

Bạn không nhất thiết phải dành một phòng cụ thể cho mục đích kinh doanh và bạn cũng không cần thiết phải thay đổi căn nhà của mình để phù hợp với công việc kinh doanh.

Tuy nhiên, trong trường hợp không dùng một phòng cụ thể để kinh doanh, có thể xác định phần trăm chi phí khấu trừ dựa trên thời gian sử dụng cho các hoạt động kinh doanh. Không gian sử dụng cho mục đích kinh doanh có thể là:

  • Văn phòng hoặc khu vực văn phòng
  • Phòng kho hoặc khu vực lưu trữ
  • Workshop
  • Garage hoặc một phần của garage để các phương tiện sử dụng cho kinh doanh

Square metre rate method

Thay vì tính xem bao nhiêu chi phí hộ gia đình của bạn có thể coi là chi phí kinh doanh, bạn có thể chọn sử dụng tỷ lệ mét vuông (Square metre rate method). Inland Revenue xem xét tỷ lệ này mỗi năm cho người nộp thuế để xác định số tiền có thể claim được cho các chi phí kinh doanh chung phát sinh từ sử dụng nhà để làm nơi kinh doanh. Phương pháp này gồm 2 bước:

  • Đầu tiên, xác định diện tích nhà sử dụng chủ yếu cho mục đích kinh doanh. Sau đó nhân diện tích đó với rate mà Inland Revenue đưa ra, không bao gồm lãi lãi suất thế chấp, rates hoặc tiền thuê. Tỷ lệ cho năm thu nhập 2021–22 đã được set ở mức $47,85 mỗi mét vuông.
  • Khoản khấu trừ thứ hai áp dụng cho thế chấp, rates hoặc tiền thuê nhà. Các chi phí này được tính theo tỷ lệ của phần mặt bằng có thể xác định được riêng biệt và được sử dụng chủ yếu cho mục đích kinh doanh.

Điều này có nghĩ là tổng số tiền được khấu trừ được tính theo công thức sau:

(Tổng chi phí mặt bằng x tỷ lệ sử dụng cho kinh doanh) + (diện tích dùng cho kinh doanh tính theo mét vuông x square metre rate)

GST

Nếu bạn đăng ký GST, bạn có thể claim một phần của GST cho các chi phí văn phòng tại nhà khi bạn thanh toán chúng trong mỗi kỳ khai thuế GST hoặc vào cuối năm tính thuế của bạn. Khoản này không bao gồm lãi thế chấp và tiền thuê nhà vì không có thành phần GST trong các khoản này.

Khuyến nghị cho sole traders

Khá là khó để có thể phân chia rõ ràng phần sử dụng cho kinh doanh và sinh hoạt gia đình. Với mỗi khoản chi phí bạn được claim, bạn nên giữ lại invoice và các record khác. Hãy giữ bản cứng của tất cả các phần tính toán của bạn và đảm bảo những bản ghi chép này được giữ ở một nơi an toàn.

Đối với companies

Nếu doanh nghiệp của bạn sử dụng nhà ở một shareholders để làm văn phòng, bạn sẽ không thể claim được khoản khấu trừ nào cho chi phí văn phòng trừ khi nó phát sinh chi phí thực tế. Nếu một shareholder hoặc director nào đó quản lý việc kinh doanh ở văn phòng tại nhà và trả hết tất cả các chi phí liên quan tới văn phòng này, Inland Revenue sẽ không coi là doanh nghiệp đó phát sinh chi phí. Doanh nghiệp đó sẽ không thể claim được khoản khấu trừ nào.

Doanh nghiệp đó chỉ có thể được khấu trừ khi:

  • Có thể chứng minh được những chi phí văn phòng tại nhà mà doanh nghiệp muốn claim là phục vụ cho việc tạo ra lợi nhuận. Doanh nghiệp không thể claim phần sử dụng cá nhân.
  • Doanh nghiệp phát sinh chi phí trong income year mà khoản khấu trừ được claim cho dù chi phí được trả trực tiếp cho nhà cung cấp hay trả thông qua chủ nhà.

Doanh nghiệp phải giữ lại những ghi chép liên quan, cùng với bất kỳ thỏa thuận nào cho phép công ty sử dụng ngôi nhà đó.

Nếu công ty bồi hoàn cho employee (hoặc shareholder-employee) cho việc sử dụng nhà của họ như văn phòng, phần bồi hoàn này (reimbursements) sẽ là thu nhập được miễn thuế đối với employee hoặc shareholder-employee đó.

Đối với LTCs, chủ của một look-through company (LTC) không thể được coi là một shareholder-employee, cho dù trong một số trường hợp nhất định, họ có thể được coi là một employee. Nếu LTCs đó trả một khoản bồi hoàn cho employee, người mà nhà của họ được sử dụng làm văn phòng, phần bồi hoàn đó sẽ được miễn thuế. Chủ của một LTC có quyền claim chi phí văn phòng tại nhà, miễn là họ có thể chứng minh có tồn tại mối quan hệ giữa chi phí đó với thu nhập mà họ nhận từ LTC.

Khuyến nghị cho companies

Đối với bất kỳ yêu cầu khấu trừ thuế hoặc miễn thuế cho các khoản bồi hoàn khi sử dụng văn phòng tại nhà cho mục đích kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có những document hỗ trợ hợp lý.

Source: IRD

Motor vehicle deduction for partnerships and sole traders

Partnerships, sole traders và shareholders trong close company có thể sử dụng quy tắc này để được khấu trừ thuế thu nhập cho chi phí phương tiện đi lại nếu phương tiện này được sử dụng để tăng thu nhập kinh doanh.

Nếu phương tiện không được sử dụng riêng cho kinh doanh, thì bạn không thể claim được 100% chi phí phương tiện đi lại. Ví dụ, việc đi và về nhà không được tính là chi phí liên quan tới kinh doanh. Trong những trường hợp này, bạn nên tính riêng phần sử dụng cho kinh doanh để sau đó tính phần khấu trừ mà bạn có thể claim được.

Bạn có thể tính phần chi phí liên quan tới kinh doanh khi sử dụng phương tiện đó bằng cách theo dõi chi phí thực tế hoặc sử dụng một cuốn sổ nhật ký.

Chi phí thực tế

Bạn có thể yêu cầu khấu trừ dựa trên chi phí thực tế của bạn, bao gồm chi phí khấu hao của phương tiện khi nó được sử dụng cho mục đích kinh doanh. Nếu bạn dùng cách này, bạn phải ghi chép chính xác, bao gồm chi tiết các chi phí liên quan tới mục đích kinh doanh và mục đích cá nhân. Những chi phí này có thể bao gồm tiền mua xăng dầu, mua Warrant of Fitness, phí bảo dưỡng, bảo hiểm, phí đỗ xe. Ghi chép của bạn nên gồm cả lý do và khoàng cách đã đi trong tất cả các chuyến đi công tác.

Nhật ký phương tiện

Bạn có thể sử dụng một cuốn nhật ký để ghi chép tất cả các chuyến đi công tác và sau đó tính ra tỷ lệ phần trăm thực tế sử dụng cho mục đích kinh doanh trong một khoảng thời gian.

Ngoài ra, bạn cần ghi chép nhật ký trong vòng ít nhất 90 ngày liên tục để ước tính việc sử dụng phương tiện cho mục đích kinh doanh. Bạn có thể sử dụng ước tính này cho một khoảng thời gian 3 năm nếu việc sử dụng phương tiện hoặc tính chất kinh doanh của bạn thay đổi ít hơn 20% trong vòng 3 năm đó.

Khi bạn đã tính được tỷ lệ phần trăm sử dụng cho mục đích kinh doanh, bạn có thể sử dụng nó để tính phần khấu trừ được nhận cho chi phí khấu hao, chi phí liên quan tới phương tiện khi tính GST và thuế thu nhập.

Cần phải ghi chép những gì?

Sổ nhật ký cần phải ghi lại những thông tin sau:

– Ngày bắt đầu và kết thúc của quãng thời gian khảo sát 90 ngày

– Chỉ số đo lường của xe khi bắt đầu và kết thúc thời gian khảo sát

– Quãng đường đã đi trong mỗi chuyến đi công tác

– Ngày của mỗi chuyến công tác

– Lý do của mỗi chuyến công tác, và

– Bất kỳ chi tiết nào khác mà Inland Revenue có thể yêu cầu

Như vậy, bạn có thể tính được tỷ lệ phần trăm của các chi phí có liên quan tới mục đích kinh doanh.

Cuối mỗi chu kỳ 3 năm, bạn cần phải bắt đầu ghi chép trong một cuốn sổ mới. Inland Revenue cũng đã cung cấp mẫu cho sổ nhật ký này.

Ví dụ về sổ nhật ký phương tiện

Vehicle logbook
Vehicle Description: Ford Fairmont
Vehicle Registration Number: EER 6952
Date Time Starting kms Ending kms Difference kms Origin/Destinations Reason
1 Apr 21   65,423        
10 Apr 21 9.08 am 65,423 65,555 132 Office/Mr Hammer/Office Quote
5 May 21 4.30 pm 67,345 67,349 4 Office/Bank/Office Banking
25 May 21 4.30 pm 68,216 68,220 4 Office/Bank/Office Banking
5 Jun 21 8.30 am 68,250 68,271 21 Office/Mrs Marsh/Office Delivery
14 Jun 21 6.00 am 68,554 68,963 409 Office/Rotorua Industry conference
17 Jun 21 5.00 pm 68,972 69,382 410 Rotorua/Office Industry conference
30 Jun 21     70,125      
             
Total distance travelled   980    

Để tính tỷ lệ phần trăm sử dụng cho mục đích kinh doanh:

Business use Percentage = Tổng quãng đường đi liên quan tới mục đích kinh doanh = 980 = 20.84%
Tổng quãng đường đã di chuyển (70,125 – 65,423)

Bạn cần để ý rằng việc di chuyển thường xuyên giữa nhà và nơi làm việc không được chấp nhận khi khấu trừ thuế và không được tính trong phần trợ cấp tiền mặt không tính thuế bồi hoàn cho nhân viên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhà bạn được tính như nơi làm việc, và điều này có ảnh hưởng nhất định tới việc ghi nhật ký. Tốt nhất là bạn nên ghi rõ ràng trong nhật ký về các chuyến đi phục vụ cho mục đích kinh doanh.

Nếu bạn không ghi chép nhật ký

Nếu bạn không ghi nhật ký, và phương tiện được sử dụng một phần cho mục đích cá nhân (có thể là để đi từ nhà tới nơi làm việc), thì khoản tối đa mà bạn có thể claim được khi tính thuế thu nhập là 25%.

Luật GST không cho phép điều này. Nếu một chiếc ô tô được sử dụng một phần cho mục đích cá nhân nhưng không được ghi chép nhật ký, bạn sẽ không thể yêu cầu khấu trừ GST dựa trên các phi phí liên quan tới chiếc xe này.

Kilometre rates

Khi bạn tính được phần sử dụng cho mục đích cá nhân, bạn có thể sử dụng các kilometre rates của Inland Revenuew để tính phần thuế bạn có thể claim.

Kilometre rates áp dụng cho các phương tiện sử dụng xăng, dầu diesel, hybrid hoặc điện. Chúng được áp dụng mà không phân biệt kích thước động cơ và không áp dụng đối với xe máy.

Các rates được Inland Revenue chia ra thành 2 bậc:

– Bậc 1 được tính với cả chi phí cố định và chi phí vận hành của phương tiện. Nó được áp dụng cho phần sử dụng cho mục đích kinh doanh trong 14,000km đầu tiên mà phương tiện đó đi trong một năm. Rate bậc 1 của tất cả các loại xe là 83 cents/km.

– Bậc 2 chỉ tính với chi phí vận hành và áp dụng cho phần sử dụng cho mục đích kinh doanh đối với chuyến đi nào >14,000km. Rate bậc 2 là:

  • 31 cents/km đối với xe dùng xăng và dầu diesel
  • 18 cents/km đối với xe lai xăng điện
  • 10 cents/km đối với xe điện

Source: CCH & IRD

Foreign Investment Fund (FIF) Tax Rules — Individuals and Trust

Nếu bạn là nhà đầu tư  có sở hữu những khoản đầu tư ở nước ngoài (không phải là New Zealand), thì có khả năng bạn có foreign investment fund (FIF) income, New Zeland có cách tính riêng cho những khoảng thu nhập này.

Foreign Investment Fund (FIF) là gì?

Foreign Investment Fund (FIF) có thể hiểu là một công ty nước ngoài,  một chương trình hưu trí của nước ngoài (foreign superannuation scheme) hay cũng có thể một chương trình bảo hiểm nhân thọ quốc tế (non resident insurer under a life insurance policy).

Một khoản đầu tư vào FIF được định nghĩa khi một New Zealand tax resident nắm giữ:

  • Dưới 10% cổ phần trong một công ty nước ngoài
  • Dưới 10% units trong một foreign unit trust
  • Từ 10% trở lên cổ phần trong công ty nước ngoài, nhưng không phải là “Controlled Foreign Company”
  • Lợi ích từ các gói bảo hiểm nhân thọ (life insurance), cung cấp bởi FIF insurer, đặc biệt các gói này không được cung cấp tại New Zealand.
  • Lợi ích trong cách chương trình hưu trí từ nước ngoài.

 

Luật về FIF có ảnh hưởng đến bản thân chúng ta?

Nếu bạn … And Then
Sở hữu cổ phần dưới 10% trong một công ty nước ngoài  hoặc foreign unit trust Nếu đó là “attributing interest” YES, Luật FIF được xem xét
Nếu đó không là “attributing interest” NO, Luật FIF không được dùng
Nếu tổng số vốn đầu tư vào FIF từ $50,000 trở xuống Nếu bạn là cá nhân hay Trust NO, Luật FIF không có hiệu lực
Nếu bạn đầu tư một hình thức khác Yes, Luật FIF được sử dụng
Sở hữu cổ phần từ 40% trở lên, trong công ty nước ngoài Bất kì kiểu đầu tư nào No, Luật FIF không áp dụng trong trường hợp này

Giá vốn của các khoản đầu tư vào FIF và tại sao nó quan trọng?

Trong luật cùa FIF, có 1 con số rất quan trọng đó chính là giá vốn gốc (original cost). Đặc biệt biệt là các nhà đầu tư cá nhân. Cụ thể, bạn đầu tư vào các công ty nước ngoài được xem là FIF, nếu giá vốn (original cost) của bạn từ $50,000 trở xuống. Luật FIF không áp dụng. Nhà đầu tư chỉ phải trả thuế trên cổ tức (dividend), (giả định họ là nhà đầu tư lâu dài (investor) không phải dân lướt song (trader))

Ví dụ cụ thể, trong năm tài khoán 2021/2022, vì thấy bạn bè đầu tư chứng khoán thắng lớn. Anh A là New Zealand tax resident quyết định xuống tiền $30,000 NZD vào cổ phiếu Tesla. Telsa là công ty nước ngoài và tỷ lệ anh A đầu tư vào Telsa dưới 10%, vì vậy đây được xem là một thương vụ đầu tư vào FIF. Tuy nhiên vì giá vốn gốc là $30,000 ít hơn ngưỡng quy định là $50,000, nên anh A không phải dùng luật FIF để tính lợi nhuận hàng năm. Chỉ phải khai cổ tức của Tesla (nếu có) khi khai thuế cuối năm như khi đầu tư vào các công ty listed trên sàn chứng khoán của New Zealand và một số công ty của ÚC trong danh sách đặc cách.

Mọi chuyện cứ thế diễn ra, cổ phiếu Tesla tăng chóng mặt x2 x3 x4. Đến này cuối cùng của năm tài khoán (31/3/2022). Anh A đề xuất với vợ, đầu tư thêm $30,000 nữa vào Tesla, vốn gốc của anh A tăng từ $30,000 lên $60,000, vượt ngưỡng $50,000. Anh A chính thức gia nhập hội FIF. Đồng nghĩa với việc, làm bộ năm tài khoán 2021/2022. Anh phải dùng luật FIF để tính thu nhập từ cổ phiếu Telsa.

Đặc cách:

Trong những trường hợp được đặc cách luật FIF, có trường hợp ngưỡng $50,000 giá vốn và danh sách các công ty ở Úc được excempt FIF chúng ta cần đặc biệt lưu ý. Mình để link của IRD ở đây, để mọi người có thể kiểm tra xem công ty mình đầu tư có được exempt hay không.

https://www.ird.govt.nz/income-tax/income-tax-for-businesses-and-organisations/types-of-business-income/foreign-investment-funds-fifs/foreign-investment-fund-rules-exemptions/foreign-investment-fund-australian-listed-share-exemption-tool

Ngoài ra, bên dưới là full list cho FIF exemption để mọi người tham khảo:

  • FIF interests of less than $50,000 held by individuals or eligible trusts (as mentioned above)
  • Certain Australian resident companies listed on the ASX
  • 10% or more interests in an Australian company
  • Most regulated Australian superannuation schemes
  • Certain employment-related superannuation schemes or pension schemes
  • Shares in a company that is resident in a grey list country held by a natural person under an employee share plan where there are restrictions on the sale of shares

Các cách tính thu nhập theo luật FIF

Có tổng cộng 4 cách tính FIF (nếu holding less than 10%):

–       Fair Dividend Rate Method (FDR)
–       Comparative Value Method (CV)
–       Cost Method
–       Deemed Rate of Return Method (DRR)

 

Trong đó FDR và CV là hai cách tính phổ biến cho các nhà đầu tư cá nhân. Thường nhà đầu tư sẽ tính bằng cả hai phương pháp FDR vs CV, IRD cho chúng ta chọn kết quả từ hai phương pháp này. Vì vây chúng ta thường chọn phương pháp nào cho kết quả lợi nhuận thấp hơn.

Chúng ta sẽ không quá đi sâu vào chi tiết của hai cách tính này. Thay vào đó, chúng ta tìm hiểu câu chuyện và nguyên lý hoạt động của hai cách tính này.

Fair Dividend Rate (FDR): Phương pháp này họ giả định các FIF shares cho lợi tức là 5% một năm dựa trên giá trị thực tế của các cổ phiếu này tại thời điểm đầu năm tài khoán + lợi nhuận từ viêc mua và bán cùng một cổ phiếu trong một năm tài khoán (Lesser of Quick Sales & Peak Holding Adj).

Trong trường hợp anh A ở bên trên, nếu tính FIF income (under FDR), thì sẽ bằng 0. Vì tại thời điểm đầu năm tài khoán, anh A không nắm giữ cổ phiếu nào của Telsa, vì thế Opening Market Value là $0, và 0x5%=0.

Ở năm tiếp theo 2022/2023, nếu anh A không mua bán gì thêm, FIF income = Market value as at 31 March 2022 x 5%. Ví dụ, MV là $100k, thì FIF income (under FDR) là $5,000.

Comparative Value Method (CV): CV lại tâp trung vào xem nhà đầu tư kiếm được bao nhiêu tiền (unrealised or realised gains) trong một năm. Ví dụ, trường hợp anh A, không có cổ tức, chỉ mua và đến cuối năm FIF income (CV) sẽ là $40,000 (Closing market value=$100,000 – original costs=$60,000)

Năm đầu tiên thì FIF income của anh A sẽ bằng 0 (Lesser of CV:$40k and FDR:$0)

Qua ví dụ đơn giản ở bên trên, chúng ta có thể thấy Nếu nói đầu tư cổ phiếu dài hạn, đặc biệt là cổ phiếu nước ngoài (cụ thể là Mỹ) không phải đóng thuế trên capital gains là không hoàn toàn chính xác. Nếu cost of investment của bạn dưới $50,000, câu khẳng định trên có là chính xác, vì bạn chỉ phải declare dividend khi làm thuế. Đối với những công ty mạnh về capital gain growth, họ rất hiếm khi trả dividend, vì muốn tập chung re-invest phát triển công ty. Sau khi nắm giữ một thời gian dài, ban có thể bán thu capital gains về.

Còn nếu bạn đầu tư lâu dài ở cổ phiếu Mỹ, và số tiền đầu tư trên $50,000. Nếu cổ phiếu của bạn tăng từ 5% trở lên mỗi năm. Thì cứ xác định mỗi năm phải đóng 5% opening market value.under FDR.

Việc tính FIF income khá phức tạp và không hề đơn giản vì vậy hãy nói chuyện với kế toán của mình trước khi quyết đinh đầu tư nhiều vào cổ phiếu. Ngoài ra, một số trading platform như Hatch, Sharesis cho phép các nhà đầu tư mua bán cổ phiếu từ US. Trong khi Hatch tính FIF income cho người dùng, thì Sharsies lại yêu cầu người dùng tự tính. Họ chỉ cung cấp transaction history. Một điểm cần lưu ý, là khi deposit tiền vào Hatch, (mặc dù chưa mua cổ phiếu nào). Bạn đã được xem là đầu tư vào FIF, vì tiền của Hatch được giữ bởi một Money Market Fund Dreyfus BNY Mellon.

Good luck and safe investing

Motor vehicle business use and Fringe Benefit Tax (FBT)

Nếu bạn là chủ doanh nghiệp và cho nhân viên một chiếc xe để sử dụng riêng, bạn sẽ phải trả Thuế phụ bổng (FBT). Thuế này được áp dụng với xe cung cấp cho:

– Nhân viên (và người thân cận của họ)

– Shareholder-employees (vừa làm chủ vừa là nhân viên)

Thuế này sẽ được áp dụng, cho dù chiếc xe có thực sự được sử dụng cho mục đích cá nhân hay không.

Lựa chọn dành cho các close companies

Các close companies cung cấp xe cho shareholder-employees có thể lựa chọn quy tắc “Motor vehicle deduction” dành cho Sole Traders và các partners trong Partnerships để áp dụng, thay vì phải nộp thuế FBT.

Khi công ty có một chiếc xe mới, công ty phải quyết định sử dụng phương pháp nào: Motor vehicle deduction hay FBT, và sẽ áp dụng liên tục cho đến khi công ty ngừng sử dụng phương tiện đó cho mục đích kinh doanh hoặc cho đến khi công ty thanh lý phương tiện đó.

Quyền sở hữu phương tiện

Công ty phải cân nhắc viêc lợi và hại của việc xe được sở hữu bởi công ty thay vì của cá nhân cổ đông (shareholder-employees). Sở thuế khá nghiêm ngặt về thuế FBT. Vì vậy, nếu bạn không thiết lập đúng và hợp lý, khoảng FBT phải trả sẽ vô cùng lớn.

FBT không được áp dụng khi nào?

FBT không được áp dụng khi:

– Đối với các phương tiện được định nghĩa là “phương tiện liên quan tới công việc” (work-related vehicles) và không sử dụng cho mục đích cá nhân

– Đối với xe có tổng trọng lượng trên 3,500kg, có nghĩa bao gồm hầu hết các loại xe tải và xe buýt lớn hơn

– Đối với một số trường hợp khẩn cấp và một số chuyến đi xa

– Dành cho các chủ sở hữu đang làm việc trong các Look Through Companies (LTCs). Thay vào đó, những phúc lợi này được coi như phân chia lợi nhuận cho chủ sở hữu đang làm việc trong phạm vi sử dụng cho cá nhân.

Phương tiện liên quan tới công việc (Work-related vehicles)

Không phải tất cả các “business vehicles” đều là được xét là “work-related vehicles” trong tính thuế FBT. Để được coi là phương tiện liên quan tới công việc,  phương tiện đó phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Thiết kế chính của xe không được dùng để chở hành khách. Các phương tiện đủ điều kiện bao gồm utes, xe bán tải hạng nhẹ, các loại xe không có hàng ghế sau như xe tải thùng, xe chở ga, xe hatchback, xe bốn bánh; hoặc hàng ghế sau đã bị hàn xuống hoặc không thể sử dụng được vì bị chặn bởi đồ đạc như giá đỡ. Taxi và xe buýt nhỏ cũng được bao gồm trong trường hợp này.

– Tên hoặc logo của công ty phải được thể hiện rõ ràng và nổi bật bên ngoài xe. Biển báo từ tính hoặc có thể tháo rời không được chấp nhận.

– Công ty phải thông báo bằng văn bản cho nhân viên hoặc shareholder-employees bị ảnh hưởng rằng di chuyển giữa nhà và nơi làm việc là mục đích sử dụng cá nhân duy nhất được phép chấp nhận, hoặc thuận đường khi đi công việc (travel incidental to business travel). Chúng tôi khuyến nghị bạn thông báo điều này qua thư thay vì chỉ đề cập đến nó trong một thỏa thuận lao động.

– Công ty phải ghi lại các lần kiểm tra hàng quý trên mỗi chiếc xe, để đảm bảo việc hạn chế được tuân thủ. Ví dụ, công ty có thể kiểm tra nhật ký đi lại và lịch sử mua xăng dầu.

FBT và sử dụng cho mục đích cá nhân

Nếu một phương tiện liên quan tới công việc đáp ứng đủ các điều kiện trên nhưng có sẵn để sử dụng riêng vào những ngày nhất định, chẳng hạn như Thứ bảy và chủ nhật thì sẽ được miễn FBT một phần.

Nếu phương tiện được cất giữ tại nhà của một shareholder cũng là trụ sở của công ty, để đủ điều kiện được miễn trừ thì hoàn toàn không được sử dụng cho mục đích cá nhân.

Nếu nhà của shareholder là địa điểm kinh doanh thứ cấp, thì phải có sự hạn chế về sử dụng cho cá nhân để đủ điều kiện được miễn trừ. Công ty sẽ phải chứng minh rằng phương tiện đó không có sẵn để sử dụng cho mục đích cá nhân.

Cách chứng minh sự hạn chế sử dụng xe của công ty cho mục đích cá nhân đối với shareholder

Mọi người luôn nghi ngờ rằng Shareholder-employees sử dụng phương tiện của công ty cho mục đích cá nhân.

Để có thể cho rằng một shareholder-employee bị hạn chế sử dụng phương tiện cho mục đích riêng, theo Inland Revenue, công ty đó phải:

– Đưa ra những điều khoản chi tiết về sự hạn chế

– Đảm bảo rằng shareholder-employee đó biết về sự hạn chế đó

– Liên tục ghi lại quãng đường sử dụng hàng ngày cho cả kinh doanh và mục đích cá nhân trong một cuốn sổ nhật ký hoặc lựa chọn duy trì kiểm tra định kỳ 3 tháng để xác định việc sử dụng phương tiện của employee

– Xuất trình sổ nhật ký khi được yêu cầu để chứng minh việc hạn chế sử dụng luôn được tuân thủ

Khi nào phải trả FBT?

Thông thường, FBT sẽ phải nộp hàng quý tuy nhiên có thể khai tờ khai thuế hàng quý, hàng năm hoặc theo năm tài khoán tương ứng. Tần suất khai thuế phụ thuộc vào loại hình doanh nghiệp của bạn, phúc lợi bạn cung cấp và bạn phải trả bao nhiêu thuế.

FBT được tính như thế nào?

– FBT được tính dựa trên giá mua của phương tiện (bao gồm GST), hoặc dựa trên giá trị tính thuế của phương tiện đó. Lưu ý rằng khi tính FBT dựa trên giá mua, giá mua của phương tiện đó sẽ được tính là số tiền thanh toán trừ đi số tiền chiết khấu bạn nhận được theo chương trình “Clean vehicle discount scheme”.

– Giá trị tính thuế của phương tiện là giá trị được sử dụng cho mục đích khấu hao thuế ở đầu năm tính thuế hoặc năm phát sinh thu nhập

– Khi đã lựa chọn sử dụng giá mua hoặc giá trị tính thuế, bạn phải tiếp tục dùng cách tính đó cho tới khi bạn bán phương tiện đó, hợp đồng cho thuê hết hạn hoặc đã qua một khoảng thời gian là 5 năm.

– Nếu bạn sử dụng cách tính dựa trên giá mua, FBT được tính ở mức 5% mỗi quý trên giá vốn đã bao gồm GST của phương tiện đó, nhân với 63.93% (sử dụng một tỷ số duy nhất)

– Nếu bạn sử dụng cách tính dựa trên giá trị tính thuế, FBT được tính ở mức 9% mỗi quý trên giá trị khấu hao đã bao gồm GST của phương tiện, nhân với 63.93% (sử dụng một tỷ số duy nhất)

– FBT phải trả được giảm dần theo số ngày mà phương tiện đó không được sử dụng cho mục đích cá nhân hoặc được miễn trừ FBT.

– Có lựa chọn thứ 3 cho FBT, cho phương tiện phải trả là 49.25%. Nếu nhân viên đó có lương ít hơn $180,000, bạn nên chọn lựa chọn này. Điều này sẽ liên quan tới việc đối chiếu cuối mỗi năm tính thuế.

Hãy ghi nhớ

Cũng như hầu hết các vấn đề khác về thuế, lưu trữ hồ sơ cẩn thận là điều cần thiết để theo dõi các nghĩa vụ FBT của bạn và đảm bảo rằng bạn có tài liệu hỗ trợ để chứng minh cho quyền lợi của mình.

 

Provisional Tax

Tìm hiểu về Hệ thống Thuế dự toán

Thuế dự toán là một cách quản lý thuế thu nhập của bạn bằng cách trả dần khoản thuế phải nộp cho năm tới ngay trong năm nay.

COVID-19 và Thuế dự toán

Bài viết này sẽ đưa ra những quy tắc thông thường của Thuế dự toán. Tuy nhiên, dưới sự ảnh hưởng của COVID-19, những trường hợp ngoại lệ và các biện pháp giảm thuế cụ thể đã được tạo ra để hỗ trợ các doanh nghiệp đối phó với khó khăn trong thời kỳ dịch bệnh:

  • Ngưỡng thuế thu nhập còn lại (Residual income tax – RIT) đối với thuế dự toán tăng từ $2.500 lên $5.000 từ năm tính thuế 2020/21. Điều này có nghĩa là bạn chỉ phải nộp thuế dự toán nếu bạn số thuế phải nộp còn lại của bạn cuối năm trước trên $5.000 (thay vì $2.500 vào năm tính thuế 2019/20 và các năm trước đó).
  • Nếu doanh nghiệp của bạn chịu ảnh hưởng của COVID-19 và:
    • Bạn cần phải ước tính lại thuế dự toán của bạn vì thu nhập của bạn không đạt dự tính và bạn đã nộp thừa thuế dự toán, có thể bạn sẽ được hoàn trả sớm phần nộp thừa này.
    • Nếu bạn không thể nộp thuế trước ngày tới hạn, Inland Revenue có quyền quyết định sẽ xóa khoản tiền phạt và tiền lãi cho bạn hay không. Ngay khi có thể, bạn nên thông báo về thời điểm bạn có thể nộp thuế hoặc yêu cầu trả dần nhiều lần. Khi đó, bạn có thể đạt đủ điều kiện để được xóa bỏ UOMI (tiền lãi phải trả cho khoản tiền thuế nộp thiếu)

Bạn có thể sẽ phải nộp thuế dự toán khi…

Nếu số thuế phải nộp trên tờ khai thuế thu nhập gần nhất của bạn nhiều hơn $5,000, bạn có thể phải nộp thuế dự toán cho năm sau. Bạn sẽ không phải nộp thuế dự toán nếu thuế thu nhập còn lại (RIT) của năm trước đó của bạn từ $5,000 trở xuống.

Số lần trả góp thuế dự toán mà bạn thực hiện tùy thuộc vào cách bạn tính thuế dự toán của mình. Nếu bạn đã đăng ký GST, thì số lần trả góp thuế dự toán sẽ được xác định dựa trên tần suất bạn nộp tờ khai thuế.

Ngay cả khi bạn không phải nộp thuế dự toán, bạn vẫn có thể chọn làm như vậy.

Residual income tax (RIT) là gì?

Residual income tax – Thuế thu nhập còn lại là phần còn lại của số thuế bạn phải nộp sau khi trừ đi các khoản miễn thuế được hưởng và các khoản PAYE đã được khấu trừ. RIT được sử dụng để tính số thuế dự toán bạn phải nộp.

Nếu tôi không nộp thuế dự toán thì sao?

Nếu bạn phải nộp thuế dự toán nhưng bạn không nộp, nộp thiếu hoặc nộp muộn, bạn có thể sẽ phải chịu cả tiền phạt và lãi của tiền thuế nộp thiếu (UOMI – Use of money interest). Có một số cách tính thuế dự toán sẽ giúp bạn tránh việc phải trả UOMI.

Các cách tính thuế dự toán

Bạn có thể lựa chọn một trong những cách tính sau (chi tiết ở bảng dưới cùng):

  1. Tiêu chuẩn (Standard)
  2. Ước tính (Estimation)
  3. Sử dụng GST ratio – chỉ khi bạn đã đăng ký GST
  4. Accounting Income Method (AIM)

Khi nào bạn phải trả thuế dự toán?

Số lần bạn phải nộp thuế dự toán trong năm sẽ phụ thuộc vào cách tính thuế dự toán của bạn, và số lần bạn nộp thuế GST (nếu có đăng ký). Nếu ngày quyết toán của bạn là 31/3 và bạn dùng cách tính tiêu chuẩn hoặc ước tính để tính thuế dự toán phải nộp, hạn nộp thuế dự toán của bạn sẽ là:

  Không đăng ký GST Đăng ký GST và nộp hàng thàng hoặc 2 tháng một lần Đăng ký GST và nộp 6 tháng một lần
Trả góp lần 1 28/8 28/8 28/10
Trả góp lần 2 16/1 15/1 7/5
Trả góp lần 3 7/5 7/5  

Nếu bạn sử dụng GST ratio, bạn sẽ phải nộp thuế dự toán và GST cùng một lúc dựa trên tờ khai thuế chung. Nếu ngày quyết toán của bạn là 31/3, hạn nộp thuế dự toán sẽ là:

Trả góp lần 1 28/6
Trả góp lần 2 28/8
Trả góp lần 3 28/10
Trả góp lần 4 15/1
Trả góp lần 5 28/2
Trả góp lần 6 7/5

Safe harbour taxpayer & GST Ratio taxpayer: use of money interest

Safe harbour taxpayer là người nộp thuế:

  • Dùng phương pháp tiêu chuẩn để xác định và nộp RIT của mình trong năm nay
  • Có RIT trong năm nhỏ hơn $60,000, và
  • Trong năm nay chưa có giấy chứng nhận miễn thuế Resident Withholding Tax

Là một safe harbour taxpayer, bạn không phải trả UOMI, trừ khi bạn không thực hiện đủ nghĩa vụ thuế trong năm của mình. Nếu bạn chọn cách ước tính thuế dự toán của mình mà không chọn tham gia chương trình safe harbour, bạn sẽ phải chịu UOMI cho bất kỳ khoản thuế dự toán nộp thiếu nào kể từ ngày trả góp đầu tiên.

Nếu bạn chọn cách sử dụng GST ratio để xác định thuế dự toán phải nộp cho cả năm, bạn sẽ không phải trả UOMI nếu nộp thiếu.

Nếu bạn là một safe harbour taxpayer hoặc sử dụng GST ratio để tính thuế dự toán, bạn sẽ không được nhận UOMI nếu nộp thừa thuế dự toán trong năm (mặc dù lãi suất vượt thanh toán hiện tại cũng chỉ là 0%)

Lựa chọn nộp thuế dự toán

Kể cả khi bạn không cần phải nộp thuế dự toán, bạn vẫn có thể lựa chọn tham gia nộp loại thuế này. Bạn sẽ đủ điều kiện nếu bạn đã nộp trên $5,000 thuế thu nhập và nếu trong ngày nộp thuế đầu tiên, bạn mong muốn tham gia nộp thuế dự toán trong năm đó. Quyết định này của bạn sẽ ảnh hưởng tới các tờ khai thuế hàng năm có liên quan.

Trong trường hợp bạn đã nộp thuế dự toán và sau đó nhận ra rằng mình không cần phải nộp loại thuế này, bạn có thể sẽ nhận được UOMI tính trên phần thuế đã nộp thừa (tuy nhiên vì lãi suất vượt thanh toán hiện tại là 0% nên bạn sẽ không nhận được khoản UOMI nào). Nếu tỷ lệ này tăng trong tương lai, UOMI sẽ được tính từ ngày đầu tiên sau ngày bạn nộp thuế. Nếu bạn là một safe harbour taxpayer, bạn sẽ không được nhận UOMI.

Tự nguyện nộp thuế dự toán

Một trong những lợi ích khi tự nguyện nộp thuế dự toán là bạn sẽ được giảm khoản UOMI phải nộp cho bất kỳ khoản thuế nộp thiếu nào đã biết. Nếu là một safe harbour taxpayer, bạn không cần phải ước tính cũng như phải trả bất kỳ khoản UOMI nào.

Người tự nguyện nộp thuế dự toán có thể sẽ nhận được tiền lãi, tuy nhiên lãi suất này thường thấp hơn lãi suất của các ngân hàng thương mại. Từ 8/5/2020, lãi suất vượt thanh toán của Inland Revenue vẫn giữ ở mức 0.0%.

Tiền phạt và tiền lãi cho phần thuế dự toán chưa nộp            

Tiền phạt nộp chậm thuế và UOMI được áp dụng khi nộp thiếu thuế dự toán.

Tiền phạt nộp chậm thuế Phải nộp bao nhiêu Nộp khi nào Tính dựa trên
Ban đầu 1% Ngay sau ngày tới hạn nộp thuế Số tiền thuế còn nợ
  4% Cuối ngày thứ 7 sau ngày tới hạn nộp thuế Tiền thuế + tiền phạt còn nợ

Tiền phạt chậm nộp thuế không được áp dụng khi tiền thuế chưa nộp nhỏ hơn hoặc bằng $100. Tiền phạt nộp chậm chỉ được tính khi khoản nợ RIT thực tế của bạn trong năm đã được biết. Điều này là do tiền phạt nộp chậm chỉ phát sinh đối với khoản thuế dự toán chưa nộp trong trường hợp thuế dự toán phải nộp lớn hơn thuế dự toán đã nộp. Thuế dự toán phải nộp là khoản ít hơn giữa:

  • Số thuế dự toán tạm tính phải nộp (theo cách tính đã chọn); và
  • Một phần thích hợp trong RIT của bạn trong năm

UOMI đều được áp dụng trong cả hai trường hợp nộp thừa hoặc nộp thiếu thuế dự toán kể từ ngay sau ngày nộp thuế dự toán lần đầu tiên nếu bạn không phải là một safe harbour taxpayer. Lãi suât hiện tại Inland Revenue đưa ra cho khoản thuế chưa nộp là 7.28% và lãi suất Inland Revenue trả khi bạn vượt thanh toán là 0.0%.

Người nộp thuế dự toán mà không phải là một safe habour taxpayer nhưng sử dụng phương pháp tiêu chuẩn sẽ không có nghĩa vụ trả UOMI trong hai lần trả góp thuế dự toán đầu tiên, nhưng sẽ phải trả lãi với bất kỳ khoản nộp thiếu nào hoặc nhận tiền lãi với khoản tiền vượt thanh toán kể từ ngày trả góp lần thứ 3. Khi kỳ trả góp thứ 3 đến sau khi kết thúc năm phát sinh thu nhập, nếu nghĩa vụ thuế có thể tính chính xác, số tiền thuế dự toán chính xác có thể được nộp vào kỳ trả góp thứ ba để giảm thiểu rủi ro với UOMI.

Chiết khấu thanh toán sớm cho các doanh nghiệp nhỏ mới hoạt động

Nếu bạn mới mở doanh nghiệp, bạn không cần phải nộp thuế dự toán cho tới năm phát sinh thu nhập ngay sau năm đầu tiên mà RIT của bạn vượt qua $5,000. Tuy nhiên, trên thực tế, điều này có nghĩa là bạn sẽ phải nộp số tiền thuế của hai năm trong năm đầu tiên mà bạn bắt đầu phải nộp thuế dự toán.

Nếu bạn tự kinh doanh hoặc là thành viên hợp danh, bạn có thể được chiết khấu 6.7% trên thuế thu nhập phải nộp tính trên thu nhập kinh doanh nhận được (tức là không phải lãi, cổ tức, tiền bản quyền, tiền thuê hoặc thu nhập thụ hưởng) trước năm thu nhập mà bạn phải nộp thuế dự toán lần đầu tiên.

Việc chiết khấu giúp các chủ doanh nghiệp mới nộp thuế sớm và giúp giảm căng thẳng về tài chính trong năm đầu tiên phải nộp thuế dự toán.

Tax pooling

Tax pooling giúp bạn chuẩn bị tài chính cho lần nộp thuế dự toán sắp tới và dời lịch nộp thuế lại mà không chịu khoản tiền phạt nộp muộn của Inland Revenue hay UOMI.

Bạn thanh toán cho một bên trung gian được ủy quyền như Tax Management NZ (TMNZ) một khoản phí một lần được khấu trừ và họ sẽ thay mặt bạn thu xếp khoản thanh toán thuế dự toán sắp tới. Khoản tiền này được giữ trong một tài khoản Inland Revenue, được giám sát bởi một người được ủy thác độc lập. Khi bạn trả nợ gốc vào ngày đã thỏa thuận với bên trung gian, người được ủy thác độc lập hướng dẫn Inland Revenue chuyển tiền thuế vào tài khoản Inland Revenue của bạn. Inland Revenue sẽ coi là nộp thuế đúng hạn sau khi việc chuyển tiền được xử lý.

Khuyến nghị

Nếu doanh nghiệp của bạn phải nộp thuế dự toán, bạn sẽ có nhiều lựa chọn khác nhau, một số trong số đó có thể phù hợp với doanh nghiệp của bạn hơn những lựa chọn khác. Điều quan trọng là phải có kế hoạch thuế phù hợp, để bạn đáp ứng các nghĩa vụ thuế của mình mà không bị phạt hoặc phải trả thêm tiền lãi hoặc bị siết chặt dòng tiền của doanh nghiệp.

So sánh các cách tính thuế dự toán

Standard Estimation GST ratio Accounting Income
Phần trả góp sẽ được tính dựa trên….
105% của RIT năm tính thuế trước, HOẶC 110% của RIT 2 năm trước (chọn cách này nếu bạn chưa nộp tờ khai thuế năm ngoái, ví dụ khi cơ quan thuế gia hạn thêm thời gian)

Ví dụ:

Trong năm phát sinh thu nhập 2022, John có khoản phải trả cho RIT là $55.000 nhưng anh ấy chưa nộp tờ khai thuế cho năm 2022. RIT của John cho năm phát sinh thu nhập 2021 là $65.000. Sử dụng phương pháp tiêu chuẩn, John có thể tính thuế dự toán cho năm 2023 như sau:

RIT 2021 $65,000
+ 10% $6,500
Thuế dự toán 2023 $71,500

Nếu John đã nộp tờ khai thuế thu nhập năm 2022, thuế dự toán năm 2023 tính theo cách tính tiêu chuẩn sẽ là $57,750 (=$55,000 x 105%)

Một ước tính công bằng và hợp lý về RIT của bạn cho năm tính thuế thu nhập. Nộp dự toán trực tuyến hoặc điện thoại 0800 775 247. Phần trăm của vật tư chịu thuế GST

Gửi cho Inland Revenue lựa chọn của bạn trước ngày đầu tiên của năm phát sinh thu nhập. Inland Revenue sẽ tính tỷ lệ và thông báo cho bạn trước khi khoản thanh toán thuế dự thu của bạn đến hạn

Phần mềm của bạn sẽ tính các khoản thanh toán, ngày nộp tờ khai và thực hiện việc thanh toán.

Bạn chỉ phải nộp thuế dự toán khi doanh nghiệp của bạn có lãi. Nếu doanh nghiệp của bạn thua lỗ, bạn có thể nhận được tiền hoàn lại ngay lập tức thay vì đợi đến cuối năm.

Tôi có đủ điều kiện để sử dụng cách tính này không?
Không có điều kiện nào, đây là lựa chọn mặc địch Không có điều kiện nào, chỉ cần gửi dự tính của bạn về RIT trong năm phát sinh thu nhập đúng hoặc trước ngày tới hạn của một kỳ trả góp thuế dự toán Điều kiện:

·     Bạn đang kinh doanh và đăng ký GST trong tất cả các năm tính thuế trước và một phần của năm tính thuế trước khi sử dụng phương pháp này

·     RIT năm ngoái của bạn lớn hơn $5,000 và lên đến $150,000

·     Bạn nộp tờ khai thuế hàng tháng hoặc hai lần trong một tháng

·     Không phải công ty hợp danh

·     Tỷ lệ mà Inland Revenue tính cho bạn nằm giữ 0 và 100%

Bạn đủ điều kiện nếu có doanh thu dưới $5m một năm và bạn sử dụng phần mềm kế toán hỗ trợ AIM đã được phê duyệt như MYOB, Reckon hoặc Xero.

Bạn không cần đăng ký để sử dụng AIM, hãy thiết lập trong phần mềm của bạn.

Nộp thuế như thế nào?
Trả góp 3 lần (thường thấy). Nộp tờ khai thuế và thanh toán trong myIR Trả góp 3 lần (thường thấy). Nộp tờ khai thuế và thanh toán trong myIR Mỗi 2 tháng (6 lần trả góp). Nộp tờ khai thuế và thanh toán trong myIR Điều chỉnh theo tờ khai thuế GST. Gửi báo cáo hoạt động thông qua phần mềm của bạn và thanh toán tiền thuế
Hữu ích nếu…
Thu nhập của bạn ổn định hoặc tăng lên trong năm tới. Bạn biết thu nhập của bạn sẽ giảm trong năm tới. Bạn muốn tránh việc nộp quá nhiều thuế Thu nhập kinh doanh của bạn giảm hoặc biến động trong năm Doanh nghiệp của bạn đang phát triển.

Bạn mới bắt đầu kinh doanh.

Bạn có thu nhập theo mùa vụ hoặc không thường xuyên.

Khó để dự đoán chính xác thu nhập của bạn.

Bạn có phần mềm kế toán hoặc muốn bắt đầu sử dụng phần mềm kế toán.

Tôi có phải trả UOMI không?
Không phải trả trong 2 lần trả góp đầu tiên, áp dụng từ lần trả góp thứ 3. Không phải trả nếu bạn là safe harbour taxpayer Phải trả nếu ước tính thiếu Không phải trả Không phải trả nếu nộp thuế đủ và đúng hạn
Cần cẩn thận…
Bạn có thể đổi từ cách tính tiêu chuẩn sang ước tính bất kỳ lúc nào.

Bạn không thể đổi sang GST ratio hoặc AIM trong cùng một năm tính thuế

Bạn phải sửa đổi ước tính của mình cho năm tính thuế nếu hoàn cảnh thay đổi trong năm tính thuế và ước tính của bạn không còn công bằng và hợp lý.

Bạn có thể bị phạt vì nộp thiếu nếu ước tính thiếu còn nếu uớc tính cao hơn thực tế thì không có vấn đề gì.

Nếu bạn quyết định không sử dụng cách tính này nữa trước ngày trả góp đầu tiên, bạn có thể đổi sang cách tính tiêu chuẩn hoặc ước tính.

Tuy nhiên, nếu bạn không dùng cách này nữa sau ngày trả góp đầu tiên, bạn chỉ có thể dùng cách ước tính cho tới hết năm phát sinh thu nhập này

Sai sót khi nhập dữ liệu vào phần mềm sẽ dẫn tới sai lệch trong tính thuế dự toán. Hãy giám sát để đảm bảo nhập đúng dữ liệu.

 Source: CCH & IRD