Category Archives: General

Hệ thống bầu cử tại New Zealand, có thể bạn chưa biết?

Parliament là gì?

Parliament là cơ quan quyền lực cao nhất tại New Zealand. Sau 3 năm sẽ. Nhân dân New Zealand sẽ tiến hành bầu cử toàn quốc, để chọn ra 120 đại biểu quốc hội (MPs), đại diện cho mình.

Các đại biểu này là thành viên của các đảng chính trị tại New Zealand. Bao gồm:

  • Có 2 đảng chính là Main Paties: National và Labour
  • Và nhiều đảng nhỏ Minor Parties: Green, Act, NZ First, Maori party, TOP

Ai là người ủng hộ cho các đảng này:

National: theo tư tưởng tư bản chủ nghĩa, thường tập trung vào các mục tiêu tài chính và kinh tế khi nắm quyền. Vì vậy, người ủng hộ họ là dân làm kinh doanh, famers, những người tin vào nền kinh tế thị trường tự do hay những người thích được giảm thuế.

Labour: theo hướng xã hội chủ nghĩa (social oriented), tập trung vào các chỉ số an sinh xã hội, giảm khoản cách giàu nghèo. Vì vậy, người ủng hộ họ là dân lao động, làm công sở, các tổ chức công đoàn (Unions), Cộng đồng người Maori và Pacific, người nhận trợ cấp từ chính phủ. Trong những cuộc bầu cử gần đây, họ cũng nhận được nhiều ủng hộ của giới trẻ New Zealand.

NZ First là 1 đảng có thiên hướng trung hữu (centrist orientation), họ thận trọng trong chính sách nhập cư, coi trọng các giá trị thượng tôn luật pháp, quan tâm đến các chính sách cho người cao tuổi. Vì vậy Voters của NZ First là thường lànhững người cao tuổi. Ngoài ra, những người không thỏa mãn với các chính sách của 2 đảng chính, dân ở các tỉnh nhỏ (nơi họ thấy, tiếng nói của mình không được nắm nghe bởi các chính đảng) cũng thường xuyên bỏ phiếu cho họ.

Đảng Green, tên gọi đã thể hiện khuynh hướng chính trị của họ. Bảo vệ và thân thiện với môi trường là mối quan tâm hàng đầu của họ. Họ cũng quan tâm đến bất bình đẳng giàu nghèo trong xã hội. Ủng hộ các cách nhìn tiến bộ về việc bình đẳng giới hay người đồng giới tại New Zealand. Young votes cũng rất ủng hộ họ.

Đảng Act có khuynh hướng khá giống với National. Họ ủng hộ nền kinh tế thị trường, hạn chế sự can thiệp của chính phủ, đề cao sự tự do cá nhân, tin vào triết lý làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Dân kinh doanh, đầu tư bất động sản, những người tin vào việc cắt giảm chi tiêu công là những người ủng hộ Act.

120 ghế quốc hội được chia thế nào?

Hệ thống bầu cử MPP (Mixed-Member Proportional) được sử dụng để phân chia 120 ghế này.

Cụ thể như sau:

Trong phiếu bầu cử, sẽ có 2 phần: Party Vote và Electorate Vote

Party vote là bầu cho party mà bạn ủng hộ

Electorate vote là bầu cho đại diện dân biểu tại khu vực bạn sinh sống. Những đại đại diện dân biểu này thuộc các đảng chính trị tại New Zealand.

Trong 120 ghế:

  • 72 ghế được xác định từ những người thắng cử từ các địa phương (Electorate Vote)
  • 45 ghế từ Party list của các đảng.

The 5% threshold

Hệ thống MMP quy định,

  • chỉ có những Đảng có tỷ lệ phần trăm party vote từ 5% mới được tham gia chia 120 ghế.
  • Trừ trường hợp, đảng đó có dân biểu thắng cử ở khu vực (Electorate Vote)

Mình sẽ dùng kết quả của những poll gần đây để cho các bạn dễ hiểu.

Đây là kết quả thăm dò tỷ lệ ủng hộ của các đảng tại ngày 25/5/2023. Nếu đây là kết quả bầu cử vào ngày 15/10/2023, thì chỉ có 4 đảng có party vote cao hơn mức 5%  (National, Labour, Green, Act) và TPM 2% là được chia ghế trong quốc hội

Thì 120 ghế quốc hội sẽ được phân chia như sau:

National có 47 ghế

Act 15 ghế

Labour 46 ghế

Green 9 ghế

TPM 3 ghế

Để thành lập chính phủ, một đảng hoặc liên minh đảng cần ít nhất 61 ghế để thành lập chính phủ. Trong trường hợp này National và Act với 62 ghế, đã đủ điều kiện quá bán để thành lập chính phủ.

The King Maker

The King Maker là 1 thuật ngữ chỉ kết quả của quốc bầu cử không phụ thuộc vào 2 đảng lớn, mà phụ thuộc vào các đảng nhỏ, vì các đảng lớn không đủ 61 ghế để thành lập chính phủ.

Đây là kết quả thăm dò tỷ lệ ủng hộ của các đảng tại ngày 4/10/2023, 11 ngày trước khi có kết quả của cuộc bầu cử

Nếu đây là kết quả của cuộc bầu cử, NZF với 6% party vote, chính thức trở lại quốc hội.

120 ghế quốc hội sẽ được chia như sau:

Cả 2 liên minh NAT+Act (59 ghế) hay Labour+Green+TPM (53 ghế) đều không đủ quá bán để thành lập chính phủ. NZF chỉ với 6% party vote sẽ là người quyết định liên minh nào sẽ giành thắng lợi. Và từ đó 1 lần nữa trở thành King Maker.

Liên Minh Lab/green/TPM đã nói không hợp tác với NZF. Tuy nhiên, sự khác biệt về giá trị giữa NZF và liên minh NAT+ACT, làm cho người dân lo sợ về 1 chính phủ bất ổn, ông đánh xuôi và bà thổi ngược nếu liên minh NAT/ACT/NZF thành lập chính phủ.

 

 

Renting Short-stay accommodation in the home

Cho thuê Airbnd tại nhà? Hãy tìm hiểu về khía cạnh thuế trong trường hợp này

Thu nhập kiếm được từ tiền thuê nhà phải chịu thuế và bạn có thể yêu cầu khấu trừ các chi phí liên quan đến việc kiếm được thu nhập đó. Các quy tắc thuế khác nhau được áp dụng tùy thuộc vào từng trường hợp.

Đối với mục đích thuế, chỗ ở lưu trú ngắn ngày (short-stay accommodation) khác với chỗ ở được cung cấp cho người thuê nhà (tenants), người ở trọ (boarders), người ở nhà tình thương (care-home residents), chỗ ở cho sinh viên hoặc trường hợp khẩn cấp. Các quy tắc khác nhau tùy thuộc vào việc bạn đang tiếp đón khách tại nhà riêng của mình hay tại một khu nhà riêng biệt tại nơi bạn ở, chẳng hạn như đi ngủ ngoài trời (a sleepout) hay tại những ngôi nhà bạn dành để nghỉ dưỡng (your bach or your holiday home).

Nếu bạn yêu cầu được khấu trừ, Inland Revenue cần biết rằng bạn chỉ muốn claim các chi phí liên quan đến việc cho thuê và không yêu cầu các chi phí phát sinh do việc sử dụng trong hộ gia đình của bạn.

Tờ thông tin này sẽ nói cụ thể về trường hợp bạn cung cấp chỗ ở ngắn ngày ngay tại nhà bạn, thường là thông qua Airbnb. Thời gian lưu trú ngắn hạn có thể lên đến bốn tuần liên tục.

Một số thứ cần lưu ý

 

100 Nếu bạn cho khách thuê một phần hoặc toàn bộ ngôi nhà của mình dưới dạng chỗ ở ngắn hạn, bạn có thể claim standard costs, nhưng chỉ khi bạn cho khách thuê tối đa 100 đêm trong năm (tính từng phòng được thuê riêng).
5,000 Nếu số thuế đến hạn vào cuối năm của bạn nhiều hơn $5,000, bạn sẽ phải trả các khoản thuế tạm tính (provisional tax instalments) vào năm tiếp theo. Con số này đã tăng so với mức $2.500 trong năm tính thuế 2020/21.
60,000 Nếu bạn kiếm được hơn $60,000 một năm từ các hoạt động chịu thuế của mình, bạn phải đăng ký GST. Nếu bạn kiếm được ít hơn 60.000 đô la một năm, bạn có thể chọn đăng ký GST. Nếu bạn đã đăng ký GST, bạn sẽ không thể claim standard costs.

Tôi cần biết điều gì khi cho thuê nhà của mình?

Bạn có thể cho khách thuê một phần hoặc toàn bộ ngôi nhà của mình để làm chỗ ở ngắn hạn. Đây có thể là một hoặc nhiều phòng, hoặc toàn bộ ngôi nhà. Thu nhập từ việc cho thuê phải chịu thuế. Bạn có thể claim các chi phí liên quan đến việc cho thuê. Nếu bạn cho khách thuê tối đa 100 đêm trong năm, bạn có thể sử dụng phương pháp standard cost để tính toán chi phí. Nếu cho thuê hơn 100 đêm trong một năm, bạn có thể claim actual costs nhưng chỉ đối với những chi phí liên quan đến thu nhập từ việc cho thuê chỗ ở.

Phương pháp standard cost là gì?

Inland Revenue đặt ra standard cost mỗi năm dựa trên ước tính của họ về chi phí trung bình hàng đêm cho một chủ nhà. Thu nhập nhỏ hơn hoặc bằng mức standard costs được miễn thuế. Thu nhập cao hơn standard costs phải chịu thuế. Trong năm 2021–22, chi phí tiêu chuẩn hàng đêm (nightly standard-cost) là:

▪ $ 55 nếu là nhà của bạn, hoặc

▪ $ 50 nếu bạn thuê nhà.

 

Exempt income = Total room rental nights × nightly standard-cost

(Thu nhập được miễn thuế = Tổng số đêm cho thuê phòng x chi phí tiêu chuẩn hàng đêm)

 

Taxable income = Total rental income – Exempt income

(Thu nhập chịu thuế = Tổng thu nhập cho thuê – Thu nhập được miễn thuế)

 

Standard costs bao gồm những gì?

Chi phí tiêu chuẩn bao gồm:

▪ chi phí tài chính, tiền thuê nhà, tiền bảo hiểm và rates

▪ đồ ăn sáng, đồ đựng thức ăn, khăn trải giường, phòng tắm và thiết bị giặt là, dọn dẹp, điện, điện thoại, internet, phòng ngủ, và đồ nội thất gia đình nói chung mà bạn cung cấp cho khách thuê, và

▪ phí quảng cáo và phí dịch vụ cho chủ nhà.

Bạn không thể claim thêm các chi phí bổ sung (additional costs) nếu chúng có liên quan đến một item đã bao gồm trong standard costs. Nếu additional costs không được bao gồm trong standard costs, bạn chỉ có thể claim phần liên quan trực tiếp đến việc cho khách thuê chỗ ở. Bạn phải ghi lại các additional costs là gì.

Nếu bạn nhận được các khoản hoàn trả (reimbursements) cho các additional costs không được bao gồm trong standard costs (giả sử khách của bạn hoàn lại tiền cho bạn cho các cuộc gọi qua tổng đài), thì những khoản này không được tính là thu nhập. Đừng cố gắng yêu cầu khấu trừ cho các chi phí bạn đã được hoàn trả.

Ai KHÔNG THỂ sử dụng phương pháp standard cost?

Bạn không thể sử dụng phương pháp standard cost nếu trong cùng một năm:

▪ bạn đã cho thuê phòng hơn 100 đêm

▪ chỗ ở bạn dùng để cho thuê là một phần của hoạt động chịu thuế GST

▪ tài sản được giữ trong một quỹ tín thác (Trust) NGOẠI TRỪ trường hợp bạn đã thanh toán mọi chi phí cho tài sản đó (ví dụ như lãi suất thế chấp hoặc tiền thuê, tiền bảo hiểm, rates, tiền sửa chữa và bảo trì)

▪ bạn không phải là một thể nhân (ví dụ: bạn đang quản lý tài sản như một công ty)

▪ chỗ ở cũng đang được sử dụng cho các boarders

▪ bạn cũng đang yêu cầu claim actual costs trong việc cung cấp chỗ ở cho bạn cùng phòng (flatmates), hoặc

▪ bạn (hoặc bất kỳ ai khác trong nhà của bạn) cũng yêu cầu claim standard costs cho một số dịch vụ gia đình khác, chẳng hạn như cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em.

Nếu tôi cũng nhận được một khoản Accommodation supplement từ MSD thì sao?

Nếu bạn nhận được một khoản accommodation supplement từ Ministry of Social Development, điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc tính toán standard costs. Standard costs (và thu nhập được miễn thuế) sẽ bằng:

 

(Total room rental nights × nightly standard-cost) – accommodation supplement

(Tổng số đêm cho thuê phòng × chi phí tiêu chuẩn hàng đêm) – accommodation supplement

Accommodation supplement trong công thức này được phân bổ cho các đêm cho thuê phòng như sau:

 

Tổng accommodation supplement × (Tổng số đêm cho thuê phòng/
365)

Nếu bạn nhận được bất kỳ hỗ trợ nào từ MSD, bạn cần cho họ biết về thu nhập cho thuê của bạn.

Nếu tôi không muốn sử dụng phương pháp standard cost? Claim actual costs

Nếu bạn cho khách thuê trên 100 đêm trong một năm, bạn phải sử dụng phương pháp actual cost. Nhưng nếu bạn thuê dưới 100 đêm, bạn vẫn có thể chọn claim dựa trên actual cost. Theo phương pháp này, tất cả thu nhập của bạn từ việc cho thuê là thu nhập chịu thuế và phải được kê khai.

Các chi phí được khấu trừ 100%

Các chi phí chỉ liên quan đến hoạt động cho thuê của bạn được khấu trừ 100%:

▪ chi phí quảng cáo, hoa hồng hoặc phí trả cho một nền tảng để cho thuê phòng hoặc nhà của bạn

▪ supplies chỉ được sử dụng bởi khách trả tiền

▪ phí bảo hiểm hoặc rates phải trả thêm (hơn mức bạn thường phải trả) vì bạn cho thuê tài sản, và

▪ chi phí sửa chữa những hư hỏng trong khi có thu nhập chịu thuế ngoại trừ những hao mòn thông thường.

Trong các tình huống mà bạn có thể xác định các khoản phí phát sinh trong khoảng thời gian bạn chuyển ra ngoài và thuê toàn bộ ngôi nhà của mình, bạn có thể claim các chi phí liên quan như những chi phí được khấu trừ toàn phần.

Apportioning mixed expenses

Các chi phí khác sẽ chỉ được khấu trừ một phần vì chúng cũng liên quan đến việc sử dụng cho mục đích cá nhân của bạn. Chúng cần được phân bổ và bao gồm:

▪ tiền điện

▪ tiền internet

▪ lãi suất vay mua nhà (lưu ý rằng các quy tắc khấu trừ tiền lãi đã thay đổi – chúng tôi có thể cùng bạn xem xét vấn đề này để xác định xem điều này ảnh hưởng đến bạn như thế nào)

▪ bảo hiểm tài sản và rates (nếu bạn phải trả nhiều hơn vì bạn cho thuê tài sản), và

▪ phí sửa chữa và bảo trì.

Cách tính thông thường để phân bổ là dựa trên diện tích sàn và số đêm thuê:

▪ Được khấu trừ 100%: các khu vực cho khách thuê sử dụng riêng trong thời gian lưu trú (phòng và phòng riêng của họ), và

▪ Được khấu trừ 50%: các khu vực chung cho cả bạn và khách thuê (chẳng hạn như sảnh tiếp khách và khu vực ăn uống).

Các khoản khấu trừ sẽ bằng:

 

Khấu trừ cho khu vực sử dụng riêng % = 100 × (Khu vực sử dụng riêng của khách thuê/ × (Số đêm cho thuê/
Tổng diện tích) 365)
+
Khấu trừ cho khu vực sử dụng chung% = 50 × Khu vực sử dụng chung × Số đêm cho thuê
Tổng diện tích 365

Nếu bạn cho thuê nhà trong một khoảng thời gian và khách thuê có quyền sử dụng toàn bộ ngôi nhà, bạn không cần tính đến diện tích sàn. Các khoản khấu trừ của bạn sẽ dựa trên số đêm ngôi nhà được cho thuê.

Trong một số tình huống, bạn cần phải quan tâm đến số đêm có sẵn phòng để cho thuê cũng như số đêm thực sự cho thuê. Một ví dụ là khi bạn cung cấp chỗ ngủ và bữa sáng với tỷ lệ thuê cao ở chính ngôi nhà của mình. Bạn sẽ phải chứng minh được rằng khi nhà không được cho thuê, bạn hoàn toàn không sử dụng nó, thậm chí không phải để lưu trữ đồ đạc. Bạn phải ghi lại những thời điểm khi phòng còn trống, sẵn sàng để cho thuê. Bạn cần phải chứng minh bạn đã có những hoạt động tiếp thị thường xuyên, tích cực, giá thuê ở mức giá thị trường và chứng minh được rằng những phòng đó có sẵn, còn trống để sẵn sàng cho thuê vào đúng thời điểm đã ghi chép. Trong trường hợp này, bạn hãy thay thế “số đêm đã cho thuê” bằng “số đêm đã cho thuê + số đêm có sẵn cho thuê” trong các phép tính ở trên.

Khấu trừ cho chi phí khấu hao của chattels

Bạn cũng có thể yêu cầu khấu trừ cho chi phí khấu hao của chattels. Chattel có thể bị hao mòn, giảm giá trị trong khi được sử dụng để kiếm thu nhập. Nếu chúng chỉ được sử dụng bởi khách thuê (ví dụ như chattels trong phòng ngủ mà bạn chỉ sử dụng để cho thuê), khấu hao sẽ được khấu trừ 100%. Nếu các chattel nằm trong các khu vực chung nhưng bạn đã cho thuê toàn bộ căn nhà thì khoản khấu hao sẽ được khấu trừ 100% cho khoảng thời gian đó. Nếu chattels ở các khu vực chung và trong khi cho thuê, bạn cũng ở đó, bạn chỉ có thể claim phần có liên quan đến thu nhập. Có một công thức cụ thể cho điều này.

Trước tiên, hãy tính depreciation losses trong năm cho chattels. Sau đó tính ra phần được khấu trừ.

Là một phần của các biện pháp giảm thuế trong thời kỳ COVID-19, Chính phủ đã điều chỉnh ngưỡng tài sản có giá trị thấp để tính khấu hao, cho phép ghi vào chi phí ngay lập tức các tài sản có giá thấp hơn mức ngưỡng. Đối với các tài sản được mua vào hoặc sau ngày 17 tháng 3 năm 2021, ngưỡng này là $1,000. Đối với các item có giá trị giảm xuống dưới ngưỡng, khoản lỗ khấu hao (depreciation loss) là nguyên giá của item đó. Đối với các item là một phần của set tài sản được mua cùng lúc từ cùng một nhà cung cấp, mức ngưỡng sẽ áp dụng cho cả set đó. Nếu ở trên ngưỡng, các item phải được khấu hao theo phương pháp giảm dần giá trị (diminishing value method) hoặc phương pháp đường thẳng (straight-line method).

Khi bạn đã biết khoản lỗ khấu hao trong năm, bạn có thể tính phần có thể claim. Công thức tính các khoản khấu trừ dựa trên tỷ lệ số đêm mà nơi ở được thuê hoặc có sẵn để cho thuê so với tất cả các đêm trong năm mà không gian có sẵn cho bất kỳ mục đích nào (thay vì tổng số đêm trong năm):

 

Phần được khấu trừ = Lỗ khấu hao × (Số đêm nơi ở được cho thuê hoặc sẵn sàng để cho thuê/
Số đêm chattels được sử dụng vì bất kỳ mục đích nào)

Tôi có cần nộp tờ khai thuế không?

Nếu thu nhập của bạn từ việc cho thuê không vượt quá standard costs, bạn không cần phải khai thuế. Nếu có vượt quá, bạn cần phải tờ khai thuế cho khoản thu nhập không được cover bởi standard costs. Nếu bạn muốn claim actual costs, bạn cần phải khai báo tất cả thu nhập từ việc cho thuê chỗ ở ngắn ngày và tất cả các chi phí liên quan đến việc cho thuê.

Nếu tôi đồng sở hữu căn nhà thì sao?

Nếu bạn cùng sở hữu (hoặc thuê) căn nhà, thu nhập cần được phân chia hợp lý giữa các chủ sở hữu khi kê khai thu nhập trong tờ khai thuế.

Nếu tài sản được sở hữu trong một quỹ ủy thác, thì điều này sẽ phức tạp hơn.

Nếu bạn thuê nhà từ một người thân (không phải là tín chấp) và sử dụng nó để kiếm thu nhập, bạn phải trả một khoản tiền thuê nhà tương xứng trong phạm vi sử dụng để kiếm thêm thu nhập. Nếu không, Inland Revenue có thể xem xét điều này và đánh giá lại khoản thuế đến hạn của bạn dựa trên giá trị thị trường.

Bạn cần phải lưu giữ hồ sơ ghi chép

Cho dù bạn sử dụng phương pháp standard cost hay actual cost để yêu cầu các khoản khấu trừ, bạn cần phải lưu giữ hồ sơ để hỗ trợ cho yêu cầu của mình. Như bạn chưa biết đến cuối năm tính thuế liệu bạn có muốn hoặc có đủ điều kiện để sử dụng phương pháp standard cost hay không, hãy đảm bảo rằng bạn có đầy đủ ghi chép về:

▪ tổng số đêm cho thuê phòng (tính cho từng phòng được thuê riêng)

▪ tổng thu nhập từ việc cho thuê, và

▪ các chi phí.

Source: IRD

Lease vs Buy

Nếu bạn đang muốn mua một chiếc xe mới và cân nhắc về nguồn tài chính, nhân viên bán hàng sẽ đưa ra cho bạn hai lựa chọn: thuê hoặc mua. Tờ thông tin này sẽ cho bạn một cái nhìn tổng quan về vấn đề này.

Điểm quan trọng nhất cần lưu ý là khoảng thời gian thường là 3 năm (normal period) khi đi thuê hoặc thuê mua:

Tổng chi phí để sở hữu hoặc thuê một chiếc xe sẽ xấp xỉ như nhau trong ba năm khi tất cả các yếu tố chi phí đều được xem xét

Thuê và thuê mua (Hire purchase – HP) hoặc đi vay chỉ đơn giản là hai nguồn tài chính khác nhau:

  • Cho thuê finances cho việc sử dụng một chiếc xe
  • Thuê mua finances cho việc mua xe

Mỗi loại đều có những lợi ích và hạn chế riêng tùy thuộc vào hoàn cảnh riêng của người sử dụng phương tiện.

Bạn nên cân nhắc điều gì khi so sánh các lựa chọn thuê hoặc mua?

Khi quyết định thuê hoặc mua một chiếc xe, hãy xem xét các ưu tiên và tình hình tài chính của bạn:

  • Việc có quyền sở hữu đối với chiếc xe đối với bạn, có quan trọng bằng việc chỉ phải trả một khoản phí rất thấp hoặc không cần đặt cọc, nhưng vẫn có thể sử dụng được chiếc xe tương tự?
  • Bạn có nhu cầu sử dụng một chiếc xe mới nhưng thiếu tiền để đặt cọc hoặc trả trước?
  • Bạn có quan trọng việc trả hết tiền xe và không mắc nợ trong một thời gian không, ngay cả khi điều đó có nghĩa là khoản thanh toán hàng tháng sẽ cao hơn trong vài năm đầu tiên?
  • Tình hình tài chính của bạn sẽ như thế nào vào cuối thời gian thuê xe hoặc vay mua xe trả góp?
  • Ngày nay, rủi ro sửa chữa lớn do lỗi của nhà sản xuất đã giảm bớt vì hầu hết các xe ô tô mới đều có bảo hành từ 3–5 năm và số km sử dụng tối thiểu là 100.000 km.

Lựa chọn đi thuê xe

Có hai loại hợp đồng thuê:

1.1 Hợp đồng thuê hoạt động (Oprating Lease)

  • Hợp đồng cho thuê hoạt động một hợp đồng cho phép sử dụng một chiếc xe mới trong một khoảng thời gian cố định. Thông thường là 36 tháng và khoản thanh toán đầu tiên là phải trả trước. Hết thời gian thuê bạn phải trả xe lại. Giả sử quãng đường đi được trong phạm vi quy định theo hợp đồng thì người dùng sẽ không cần phải thanh toán thêm.
  • Hợp đồng thuê hoạt động có thể bao gồm bảo trì toàn bộ hoặc không. Bao gồm bảo trì toàn bộ có thể đồng nghĩa với việc tiền thuê hàng tháng cao hơn đáng kể

1.2 Hợp đồng thuê tài chính (Finace Lease)

  • Hợp đồng cho thuê tài chính cũng là một hợp đồng cho phép sử dụng một chiếc xe mới trong một thời gian cố định. Tuy nhiên, hợp đồng thuê tài chính có tính đến giá trị của chiếc xe vào cuối thời gian thuê. Giá trị này được gọi là ‘giá trị còn lại’
  • Hợp đồng thuê tài chính có giá trị còn thường có tiền thuê thanh toán hàng tháng thấp hơn so với Hợp đồng thuê hoạt động. Hơn nữa, người thuê thường có thể mua chiếc xe với giá trị còn lại vào cuối thời gian thuê. Nếu người thuê sử dụng xe nhiều hơn mức bình thường thì có khả năng chiếc xe sẽ có giá trị thấp hơn giá trị còn lại của nó. Trong trường hợp này thì bên thuê sẽ phải trả thêm phí.

Khi bạn đi thuê, tiền bạn phải trả chỉ tính dựa trên một phần chi phí của chiếc xe, là phần mà bạn sử dụng trong suốt thời gian thuê. Bạn có thể chọn không đặt cọc trước và các khoản tiền thuê thanh toán hàng tháng của bạn hoàn toàn có thể claim như một khoản chi phí. Bạn cần thanh toán khoản đầu tiên tại thời điểm bạn ký hợp đồng thuê. Nếu bạn đang thiếu tiền trả trước, nhưng có dòng tiền tốt, đi thuê là một cách tuyệt vời để có một chiếc xe mới.

1.3 GST và việc đi thuê

Với hợp đồng thuê hoạt động, trả góp là một cách thanh toán tiền thuê hiệu quả. GST được tính trên toàn bộ số tiền trả góp và được yêu cầu như một khoản đầu vào trong tờ khai thuế GST liên quan.

Vì hợp đồng thuê tài chính thường có tùy chọn mua xe vào cuối thời hạn thuê, GST chỉ được tính trên phần chính của mỗi lần thanh toán và được xác nhận như một khoản đầu vào trong tờ khai thuế GST liên quan.

Trong cả hai trường hợp, nếu chiếc xe không được sử dụng hoàn toàn cho mục đích kinh doanh, phần đầu vào GST được khấu trừ sẽ phải tuân theo các quy tắc phân bổ.

Lựa chọn mua xe

Khi bạn mua, bạn phải trả cho tổng chi phí của một chiếc xe bất kể bạn đã lái xe bao nhiêu km. Bạn sẽ phải đặt cọc và trả lãi do công ty tài chính hoặc ngân hàng. Bạn sẽ phải thanh toán khoản đầu tiên một tháng sau khi ký hợp đồng và có thể chọn khoảng thời gian bạn muốn thuê mua (HP)/vay.

Khi HP hoặc số dư khoản vay đã được trả hết, bạn sẽ có quyền sở hữu đối với chiếc xe đó. Với bản chất của hầu hết các phương tiện, tài sản sẽ có giá trị thấp hơn những gì bạn đã trả cho nó nhưng nó vẫn có giá trị. Nếu tại thời điểm này, bạn muốn nâng cấp lên một chiếc xe mới hơn, bạn sẽ có một khoản equity mà bạn có thể sử dụng làm tiền đặt cọc cho một chiếc xe mới. Ngoài ra, bạn có thể tiếp tục xe mà không nợ khoản nào. Tuổi của chiếc xe và việc bạn có bảo dưỡng xe hay không có thể khiến chi phí sửa chữa của bạn cao hơn.

Phương tiện có thể được sử dụng để đảm bảo cho bất kỳ khoản thuê mua nào bạn bỏ ra để mua nó. Nếu bạn bán trước khi kết thúc thời hạn thuê mua, bạn phải trả phần tiền thuê mua còn lại.

Vì mục đích thuế, chiếc xe được coi như một tài sản cố định và sẽ được khấu hao theo tỷ lệ thích hợp. Chúng tôi cũng claim tiền lãi đối với HP hoặc khoản vay. Khoản khấu hao và lãi suất được claim thường tương tự như số tiền bạn sẽ phải trả nếu bạn đi thuê xe. Nhìn chung, chúng tôi thấy rằng thuế của việc cho thuê so với mua là tối thiểu, tuy nhiên với thuế suất cận biên cao hơn, có những lợi ích về thuế ngoài lề cần được xem xét trước khi đưa ra quyết định.

Kết Luận

Chúng tôi cũng có một bảng phân tích để giúp bạn xác định các con số nếu bạn muốn so sánh chi phí và lợi ích của việc thuê và mua một chiếc xe cho doanh nghiệp của bạn. Nếu bạn cần hộ trợ hãy liên lạc với chúng tôi.

 

Minimum wage rises by $1.20 on 1 April 2022

When: 1 April 2022

What: The new minimum wage rates, before tax, are:

  • Adult – $21.20 an hour (up from $20.00)
  • Starting-out – $16.96 per hour (up from $16.00)
  • Training – $16.96 per hour (up from $16.00)

Why: By law, the Government must review the minimum wage rates every year.

What you’ll need to do:

  • If you do have staff on minimum wage, send them a letter or email to let them know about the increase.
  • If any workers are on starting-out or training wages, now is a good time to check when they’ll be eligible to move to the adult rate.
  • If you pay staff minimum wages, recalculate your budget for the rest of the year, as you’ll be paying out more in wages. To work out the updated cost of your employees, use the Employee cost calculator.
  • Check that any affected employment contracts are updated.
  • Talk to whoever runs your payroll system to make sure they’re ready for the changes.
  • If your payroll and employment agreements are a few years old, you can use this as a chance to update them using our free and easy tool, the Employment Agreement Builder. Note that it is a legal requirement to have a written employment agreement with all your staff.

Source: Business.govt.nz