Category Archives: Business structure

Trust

Việc thành lập một quỹ gia đình (Family Trust) có thể giúp bảo vệ tài sản của bạn, cũng như đảm bảo tương lai cho con cái của bạn …

Đó là cách nghĩ của đa số mọi người khi nói về Trust, họ xem trust có vẻ như là giải pháp cho nhiều lo lắng về tài chính. Vậy liệu trust có phải là ý tưởng tốt cho bạn không? Câu trả lời phụ thuộc vào hoàn cảnh của bạn.

Theo chúng tôi, trust thường được thành lập để bảo vệ tài sản và chăm sóc cho những người phụ thuộc. Chúng có thể đóng vai trò quan trọng, nhưng không phù hợp với tất cả mọi người. Chúng ta hãy cũng tìm hiểu thêm qua bài viết bên dưới.

Vậy trust là gì?

Trust là một pháp nhân độc lập, trong đó trustee (Người quản trị) giữ một quyền sở hữu và quản lý tài sản, nhưng vì lợi ích của một người khác hoặc cho những mục đích nhất định (the beneficiaries) (Người thụ hưởng).

Có 3 loại người tham gia trong mối quan hệ của một cái trust:

  • Người tạo quỹ (Settlor): Người tạo ra trust bằng cách chuyển nhượng tài sản vào trust ban đầu hoặc vào thời điểm sau này.
  • Người quản trị (Trustee): Người trở thành chủ sở hữu của tài sản chuyển nhượng vào trust và tên của họ được ghi trên các tài liệu sở hữu hoặc quyền sử dụng.
  • Người thụ hưởng (Beneficiary): Người được hưởng lợi từ trust bằng cách nhận được thu nhập và/hoặc vốn trong thời gian tồn tại của trust (beneficiaries) hoặc khi phân phối cuối cùng tài sản của trust (final beneficiaries).

10 lý do phổ biến để thành lập trust

Có nhiều lý do để thành lập một family trust và những lợi ích tiềm năng mà nó mang lại. 10 lý do phổ biến này bao gồm:

Bảo vệ tài sản (Asset Protection)

Tài sản trong trust có thể được bảo vệ khỏi các chủ nợ trong trường hợp phá sản cá nhân hoặc phá sản của một công ty mà một người là cổ đông hoặc giám đốc. Tuy nhiên, mức độ bảo vệ này sẽ phụ thuộc vào các vấn đề như khả năng thanh toán của người cho quà tặng tại thời điểm mở trust, và  liệu việc chuyển nhượng tài sản có mục đích chính là để tổn hại lợi ích của một chủ nợ hay không. Ví dụ, bạn biết mình sắp phá sản, lúc ấy đi lập một cái trust và bỏ tài sản tích góp được vào trong đấy, chủ nợ vẫn có thể phát mãi những tài sản này.

Sự tiếp nối liên tục (Continuity)

Các Trust có thể tiếp tục hoạt động sau khi người tạo quỹ qua đời mà không có bất kỳ nhu cầu bán bất kỳ tài sản nào để phân phối cho các người thụ hưởng. Việc giải ngân tiền cho các người thụ hưởng có thể diễn ra dần dần và việc phân phối cho các người thụ hưởng chưa đủ tuổi thành niên có thể được trì hoãn cho đến khi phù hợp. Những gia vật gia đình cũng có thể được bảo vệ.

Hưởng lợi từ các trợ cấp của chính phủ khi sử dụng nhà dưỡng lão (Surtax type taxation)

Tài sản trong một trust có thể cung cấp những lợi thế có lợi, khi xem xét quyền lợi trong tương lai đối với các khoản hỗ trợ của chính phủ có cá nhân sử dụng nhà dưỡng lão.Tuy nhiên, vì có các quy tắc nghiêm ngặt liên quan đến các khoản tiền, thu nhập và việc tặng quà, nên cần tư vấn với các chuyên gia, trước khi nộp đơn xin trợ.

Lịch sử cho thấy Trust đã giảm thiểu tác động của các khoản thuế cá nhân bổ sung được đánh đối với người cao tuổi.

Thuế tài sản khi mất hoặc thuế giàu có (Death Duty or Wealth Tax)

Tài sản trong một trust có thể cung cấp lớp bảo vệ chống lại các khoản thuế tài sản khi cá nhân qua đời hoặc thuế thừa kế (Lưu ý: Hiện tại không có thuế thừa kế. Tuy nhiên, chúng không bao giờ có thể được loại trừ hoàn toàn, vì chính phủ luôn có thể giới thiệu các loại thuế mới). Nếu trong tương lai có một khoản thuế thu được tính trên lợi nhuận thu được từ chuyển nhượng tài sản, miễn là trust không bán tài sản mình nắm giữ, thì có thể tránh được khoản thuế đó.

Đạo luật Tài sản trong hôn nhân (Property (Relationships) Act)

Việc tài sản chuyển nhượng vào trust có nguy cơ bị rủi ro trong trường hợp kết thúc một mối quan hệ tính cảm sẽ phụ thuộc vào các tình huống cụ thể ,và liệu việc chuyển nhượng này có làm tổn hại quyền lợi hoặc kỳ vọng của người đối diện.

Đạo luật Bảo vệ Gia đình (Family Protection Act)

Tài sản trong một trust thông thường sẽ an toàn khỏi các yêu sách bởi các thành viên gia đình (sử dụng Family Protection Act) không hài lòng với các quy định trong Di chúc của người đã qua đời.

Bảo vệ khi lão tuổi (Protection in old age)

Những khoản tài sản trong family trust có thể được cấu trúc để giảm thiểu rủi ro là người cao tuổi sẽ mất đi tài sản gia đình thông qua một cuộc hôn nhân không khôn ngoan vào cuối đời, nhưng sau đó lại ly hôn. Nó cũng có thể bảo vệ khỏi sự ảnh hưởng quá mức của các thành viên khác trong gia đình hoặc quyết định tài chính không sáng suốt.

Con cái hoặc vợ/chồng của họ không đáng tin cậy (Irresponsible Children or Their Spouses)

Tài sản có thể được bảo vệ khỏi việc bị lãng phí bởi những đứa trẻ còn trẻ tuổi và không có trách nhiệm tài chính. Thu nhập có thể được cung cấp nhưng vốn được giữ lại cho đến khi trẻ đến độ tuổi cụ thể.

Phân bổ thu nhập

Trong một số trường hợp, thu nhập thu được từ Trust có thể được phân bổ cho một hoặc nhiều người thụ hưởng để tận dụng mức thuế thấp hơn của họ, ví dụ như vợ/chồng, đối tác, con cái và cháu cháu.

Lưu ý rằng điều này phải tuân thủ ‘quy tắc người thụ hưởng chưa thành niên’, việc phân phối cho hầu hết các đối tượng chưa thành niên (trẻ em dưới 16 tuổi) phải được đánh thuế theo tỷ lệ là 33%

Quản lý tài sản hiệu quả của người đã mất

Chi phí Chi phí của việc giải quyết di sản của bạn có thể được giảm thiểu đáng kể hoặc loại bỏ hoàn toàn khi sử dụng trust.

Trust hoạt đông như thế nào?

Trước khi bãi bỏ thuế quà tặng, tài sản được bán bởi người sáng lập với giá trị thị trường vào Trust, được kiểm soát bởi các quản trị viên (trustees). Các quản trị viên có nghĩa vụ xử lý tài sản này vì lợi ích của các người thụ hưởng. Các tài sản này có thể là nhà của bạn, đầu tư ngân hàng, cổ phiếu, tài sản dùng trong sinh hoạt hoặc chính sách bảo hiểm. Chúng có thể được chuyển toàn bộ hoặc từng phần phù hợp. Một số tài sản có thể không được chuyển cho đến khi các khoản lỗ thuế được tích lũy sử dụng hết.

Hiện nay, thuế quà tặng đã được bãi bỏ, tài sản có thể được chuyển trực tiếp cho trust mà không áp dụng thuế quà tặng. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, sẽ vẫn thích hợp để bán tài sản và giữ lại nợ để người bán tài sản giữ lại một số an ninh liên quan đến tài sản bán.

Thu nhập được tạo ra bởi trust và vốn bao gồm tài sản sở hữu của trust có thể được phân phối cho các người thụ hưởng theo sự quyết định của các quản trị viên. Một số trust quy định rằng vốn chỉ có thể được trả cho các người thụ hưởng theo ý của các người sáng lập trong suốt cuộc đời của họ.

Các quản trị viên cũng có quyền phân phối cho các người thụ hưởng nhất định, và không bao gồm người thụ hưởng khác. Các người thụ hưởng trong một trust không có quyền yêu cầu các quản trị viên phân phối lợi ích cho mình, vì bất cứ điều gì mà họ nhận được đều do sự quyết định của các quản trị viên.

Thu nhập được giữ lại trong trust phải chịu thuế với tỷ lệ 33% do các người quản trị chịu trách nhiệm, trong khi thu nhập được phân phối cho các người hưởng thường phải chịu thuế theo tỷ lệ cá nhân của họ. (Tuy nhiên, xem phần Các khoản thu nhập được phân phối). Điều này đôi khi cho phép sử dụng các trust như một công cụ tiết kiệm thuế bằng cách phân phối thu nhập cho các người hưởng theo tỷ lệ thuế thấp hơn. Đối với các người hưởng lợi già, có thể phân phối vốn, nếu được xử lý đúng cách không ảnh hưởng đến lợi ích nhận được từ chính phủ hỗ trợ chi phí ở viện dưỡng lão.

Một trust có thể được thiết lập sao cho người thiết lập vẫn có thể tận hưởng lợi ích từ tài sản của trust. Người thiết lập có thể dành quyền bổ nhiệm và loại bỏ các người quản trị (quyền bổ nhiệm). Việc kiểm soát bổ nhiệm người quản trị được mong muốn bởi người thiết lập sau khi một trong họ qua đời có thể được thiết kế cụ thể vào Trust Deed. Tuy nhiên, trong trường hợp người thiết lập cũng là người quản trị và người hưởng lợi giữ quá nhiều quyền kiểm soát, tòa án, đặc biệt là tòa án gia đình, đôi khi sẽ xem việc giữ quyền kiểm soát như là tài sản. Điều này thường được gọi là Bundle or Package of Rights. Nên được tư vấn về cách đa dạng hóa quyền bổ nhiệm nếu điều này là một vấn đề bạn quan tâm.

Các trust có thể hoạt động trong thời gian giới hạn, nhưng có tuổi thọ tối đa là 80 năm (125 năm từ ngày 30 tháng 1 năm 2021). Hầu hết các trust cho phép các người quản trị chấm dứt trust vào bất kỳ thời điểm nào mà họ quyết định.

Different Types of Discretionary Trusts

Quỹ Gương (Mirror Trusts)

Bao gồm hai quỹ độc lập. Một được tạo ra bởi chồng (hoặc đối tác) vì lợi ích của vợ (hoặc đối tác) và con cái và bất kỳ ai khác là người hưởng lợi quyền. Quỹ kia được tạo ra bởi vợ hoặc đối tác vì lợi ích của chồng hoặc đối tác và con cái và người khác là người hưởng lợi quyền tùy ý.

Chồng và vợ hoặc đối tác chuyển tài sản của họ vào trust mà họ không phải là người hưởng lợi. Điều này dẫn đến việc tài sản được sở hữu bằng cách chia đều giữa hai trusts, thu nhập và vốn của đó sau đó có thể được phân phối cho chồng/đối tác và/hoặc con cái hoặc cho vợ/đối tác và/hoặc con cái của họ, tương ứng.

Loại quỹ này được sử dụng rộng rãi khi Death Duty vẫn còn và hiện nay ít được sử dụng do thực tế rằng khi một trong hai vợ chồng qua đời, người còn lại sẽ không còn được truy cập vào vốn và thu nhập của tài sản trong Quỹ được thiết lập bởi người sống sót. Loại quỹ này có thể gây vấn đề khi một trong hai vợ chồng qua đời và nên được sử dụng cẩn thận.

Quỹ Được Thiết Lập Bởi Một Người ( Sole Settled Trusts)

Một nhà sáng lập có thể tạo ra một trust cho lợi ích của một loạt người được hưởng lợi, bao gồm chính ông hoặc bà. Trong tình huống này, có một người quản trị độc lập và người được hưởng lợi thường bao gồm một loạt các cá nhân và / hoặc tổ chức.

Quỹ Được Thiết Lập Bởi Nhiều Người (Joint Settled Trusts)

Những người sáng lập chung như vợ chồng hoặc đối tác định hôn/cuộc đời thực có thể tạo ra một trust mà họ làm người quản trị chung với một người quản trị độc lập (independent trustee). Những quỹ này phù hợp nhất với những người có mối quan hệ ổn định

Trust song song (Parallel Trusts)

Hai trusts được tạo ra, mỗi trust được tạo ra bởi vợ hay chồng, trong cùng một hình thức như trust được thành lập chung (joint settled trusts) với quyền chỉ định và loại bỏ người quản trị được đưa ra độc quyền cho vợ hoặc chồng trong mỗi trust. Người hưởng lợi là giống nhau trong hai trusts và một hoặc cả hai đối tác/vợ chồng là người quản trị.

Định dạng này đặc biệt phù hợp để xem xét khi có người thụ hưởng chung hoặc mong muốn giữ sự phân ly của tài sản được chuyển vào bởi mỗi đối tác/vợ chồng.

Memorandum of Wishes

Một người thiết lập tài sản có thể cung cấp một bức thư hoặc ghi chú ký tên cho các người quản trị (để sử dụng khi họ qua đời) chỉ ra cách người quản trị nên quản lý tài sản, ví dụ như cho lợi ích của các người thụ hưởng chưa thành niên. Những bức thư này có sức thuyết phục, nhưng không nhất thiết phải được tuân thủ bởi các người quản trị.

Di chúc và Trust

Trong di chúc của bạn, có thể phù hợp để để lại các vật dụng và xe hơi cho vợ/chồng hoặc đối tác của bạn và tài sản cá nhân còn lại sẽ được chuyển trực tiếp vào trust. Điều này giúp tránh việc người sống sót sau này phải tặng các tài sản nhận được dưới dạng di sản từ người đã qua đời vào lại Trust. Lợi ích tương tự có thể đạt được thông qua việc giao các chính sách bảo hiểm sức khỏe cho Trust. Khi người được bảo hiểm qua đời, tiền bảo hiểm sẽ được trả trực tiếp vào Trust.

Trustee’s Liability

Vai trò của người quản trị là rất quan trọng. Những người được tiếp cận để trở thành người quản trị độc lập nên cân nhắc đến trách nhiệm cá nhân của họ và tìm kiếm lời khuyên. Cần có sự đề phòng để đảm bảo trách nhiệm của người quản trị đối với bên thứ ba được giới hạn trong phạm vi tài sản của trust. Khi trust vay tiền từ ngân hàng chẳng hạn, một điều khoản có thể được thêm vào để ghi nhận rằng trách nhiệm của người quản trị độc lập được giới hạn trong phạm vi tài sản của trust. Miễn là các cuộc họp định kỳ của người quản trị được tổ chức, ví dụ như một lần trong 6 hoặc 12 tháng và các quyết định và nghị quyết thích hợp được đưa ra, tất cả các vấn đề liên quan đến trust đều dễ dàng được giám sát thì sẽ không có vấn đề nào lớn về trách nhiệm cho người quản trị.

Costs of Forming a Trust

Chi phí thành lập một trust bao gồm các chi phí ban đầu cho việc thiết lập pháp lý và các chi phí hành chính hàng năm trong đó thường xuyên liên quan đến việc tặng hàng năm, chuẩn bị báo cáo tài chính, thuế và các cập nhật pháp luật liên quan đến trust act. Trust được cấp một số thuế IRD và phải nộp báo cáo thuế (kể cả nếu là báo cáo không có thuế). Trong một số tình huống, trust có thể cần phải đăng ký GST.

Gần đây càng có nhiều quy định mới được ban hành, liên quan đến việc cơ quan chức năng muốn biết nhiều thông tin hơn về các trust đang hoạt động. Hệ quả là chi phí vận hành Trust sẽ tăng đáng kể trong thời gian tới.

Advice on Formation

Có các vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến việc thành lập trust và chuyển nhượng tài sản cho nó. Ngoài ra, cần phải kết hợp hài hòa giữa chế độ sở hữu tài sản của bạn, di chúc của bạn, bản ghi nhớ mong muốn và việc thiết lập trust. Vì vậy, hãy tìm lời khuyên từ một chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

Disclaimer

We have taken every care to ensure that the information given is accurate, however it is intended for general guidance only and it should not be relied upon in individual cases. Professional advice should always be sought before any decision or action is taken.

Rental properties ownership expenses

Thu nhập thu được từ bất động sản cho thuê phải chịu thuế và bạn có thể yêu cầu khấu trừ các chi phí liên quan đến thu nhập đó. Các quy tắc thuế khác nhau được áp dụng tùy thuộc vào tình huống.

Về mục đích thuế, việc cho thuê cho người thuê nhà ở khác với việc cung cấp chỗ ở cho khách ngắn ngày (short stay guests), người ở trọ (boarders) hoặc nhà dưỡng lão (care home residents), hoặc cung cấp chỗ ở cho sinh viên hoặc cho chính phủ thuế lại làm nhà trọ cho người có thu nhập thấp (Emergency Housing). Ngoài ra, các khoản lỗ từ cho thuê bất động sản có thể được giới hạn và chỉ có thể được khấu trừ từ thu nhập từ bất động sản hoặc được chuyển sang để khấu trừ từ thu nhập thuê bất động sản trong tương lai (Ring-fenced Losses)

Loại cấu trúc kinh doanh mà bạn chọn sẽ ảnh hưởng đến lượng thuế bạn phải trả, trách nhiệm pháp lý cá nhân của bạn và cuộc sống của doanh nghiệp của bạn, vì vậy quyết định đúng đắn là rất quan trọng. Có bốn cấu trúc chính mà bạn có thể lựa chọn để vận hành một doanh nghiệp cho thuê nhỏ:

  • Cá nhân (Sole trader)
  • Đối tác (Partnership)
  • Công ty (Company)
  • Trust

Sole Trader

  • Cá nhân đứng tên quản lý và sở hữu tài sản cho thuê.
  • Thu nhập chịu thuế bao gồm toàn bộ thu nhập chịu thuế của cá nhân và không thể được gán cho các thành viên trong gia đình (ví dụ như vợ chồng) trừ khi bằng cách trả lương phản ánh công việc đã thực hiện.
  • Chủ doanh nghiệp cá nhân phải chịu thuế theo tỷ lệ thuế cá nhân biên giới, tỷ lệ cao nhất là 39%, hiện áp dụng từ ngày 1 tháng 4 năm 2021.
  • Chủ doanh nghiệp cá nhân chịu trách nhiệm cá nhân đối với bất kỳ khoản nợ hoặc thua lỗ của doanh nghiệp và bất kỳ chủ nợ doanh nghiệp nào đều có quyền đòi lại tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp cá nhân (chẳng hạn như nhà gia đình) để thực hiện quyền thanh toán.
  • Tuổi thọ hoạt động của doanh nghiệp được giới hạn. Khi chủ doanh nghiệp cá nhân qua đời, tổ chức doanh nghiệp sẽ tự động kết thúc, trừ khi di chúc có quy định khác.

Partnership

  • Hai hoặc nhiều người vận hành tài sản cho thuê như một doanh nghiệp.
  • Thu nhập có thuế được chia đều giữa các đối tác. Các đối tác phải đóng thuế theo tỷ lệ cá nhân của mình trên thu nhập của đối tác.
  • Partnership không phải là một thực thể pháp lý riêng biệt khác với đối tác cá nhân (partners). Các thành viên của Partnership do đó chịu trách nhiệm cá nhân cho tất cả các khoản nợ của Partnership. Vì các partners là có trách nhiệm liên đới với nhau, việc lựa chọn đối tác là rất quan trọng.

Company

  • Một công ty là một thực thể pháp lý riêng biệt khác với những người sở hữu nó (cổ đông).
  • Tài sản cho thuê được sở hữu là một tài sản bởi công ty.
  • Công ty được đánh thuế riêng biệt với chủ sở hữu của nó với tỷ lệ thuế doanh nghiệp là 28%. Quan trọng là lưu ý rằng tỷ lệ thuế doanh nghiệp hiện tại thấp hơn 11% so với tỷ lệ cá nhân tối đa cao nhất là 39%.
  • Giám đốc công ty có nghĩa vụ pháp lý và nhiều nhiệm vụ và trách nhiệm pháp lý khác nhau. Tất cả các công ty mới được quản lý bởi Đạo luật Công ty 1993. Giám đốc có các quyền lực, nghĩa vụ và trách nhiệm này từ Đạo luật này. Họ phải hành động trung thực và tốt tính cho lợi ích của tất cả các cổ đông và phải thực hiện sự cẩn trọng, cẩn thận và kỹ năng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Nếu giám đốc công ty vi phạm các nhiệm vụ này, ông hoặc bà có thể bị phạt và / hoặc bị kiện tụng bởi cổ đông.
  • Nói chung, giám đốc công ty chỉ chịu trách nhiệm cho các khoản nợ của công ty đến số tiền còn lại của cổ phiếu của họ hoặc đến số tiền bất kỳ cam kết cá nhân nào mà họ đã đưa ra. Tuy nhiên, họ có thể chịu trách nhiệm cá nhân cho các khoản nợ của công ty nếu công ty tiếp tục kinh doanh khi đã phá sản.
  • Các Công ty Look-Through (LTCs) là các công ty có xử lý thuế khác so với các công ty bình thường:
  1. Lợi nhuận LTC được phân bổ trực tiếp cho cổ đông hằng năm (tức là không yêu cầu phân phối lợi nhuận dưới dạng cổ tức cho mục đích thuế), vì thế thuế sẽ được tính theo thuế lũy tiến cá nhân (Marginal personal tax rates),
  2. Thay đổi sở hữu cổ phiếu LTC có thể kích hoạt depreciation recovery (vì tài sản được coi là được sở hữu bởi cổ đông hiện hữu).

Family Trust

  • Một trust điển hình bao gồm một người đặt tài sản vào trust (Setlors), ít nhất một người quản trị (Trustee) (có quyền tự chủ để phân phối thu nhập và tài sản cho các người thụ hưởng của trust (Beneficiaries) và tiếp tục kinh doanh) và một trust Deed, tập hợp các quy tắc quản lý hoạt động của trust.
  • Trust là một hình thức cấu trúc kinh doanh phổ biến vì chúng là phương tiện linh hoạt để phân phối thu nhập và tài sản cho các thành viên gia đình khác nhau với hậu quả thuế có thể có lợi.
  • Trust được đánh thuế riêng với tỷ lệ là 33%.
  • Người quản trị (Trustee) được quản lý bởi bộ quy tắc ứng xử (Trust Deed) và Đạo luật Trusts 2019. Họ có nghĩa vụ quan trọng đối với các người hưởng lợi của trust (beneficiaries). Một người quản trị nên hoàn toàn nhận thức được nghĩa vụ của mình trước khi chấp nhận trở thành một trustee của một cái trust bất kì
  • Đôi khi việc sở hữu tài sản cho thuê bởi một family trust là là một lựa chọn không tồi. Tuy nhiên, nếu bất động sản cho thuê hay bị lỗ, việc sở hữu tài sản dưới cấu trúc cá nhân (sole trader) hoặc sử dụng cấu trúc LTC có thể được ưu tiên, vì những cổ đông đó sẽ có thể truy cập vào các khoản khoản lỗ (ngoại trừ các khoản lỗ bị giới hạn bởi ring-fenced losses). Một trust không thể phân bổ các khoản lỗ của nó cho các người hưởng lợi và phải tiếp tục giữ các khoản lỗ bù đắp cho các lợi nhuận trong tương lai.

Một số chi phí bạn có thể khấu trừ từ thu nhập cho thuê của mình:

  • Phí kế toán
  • Phí và hoa hồng của đại lý
  • Lãi suất trên khoản vay thế chấp bất động sản cho thuê, tuy nhiên từ ngày 1 tháng 10 năm 2021, chủ sở hữu bất động sản sẽ không được khai trừ lãi suất trên khoản vay cho các tài sản đầu tư bất động sản để ở mà họ mua vào hoặc sau ngày 27 tháng 3 năm 2021. Khấu trừ lãi suất trên khoản vay cho tài sản đầu tư bất động sản để ở mua trước ngày 27 tháng 3 năm 2021 sẽ được loại bỏ dần dần từ ngày 1 tháng 10 năm 2021 đến ngày 31 tháng 3 năm 2025. Lưu ý rằng một số trường hợp được miễn.
  • Phí pháp lý để sắp xếp khoản vay và phí chuyển quyền sở hữu để mua bất động sản cho thuê
  • Bảo hiểm trả nợ cho khoản vay thế chấp
  • Chi phí vận chuyển hoặc đi lại liên quan đến việc kiểm tra, cải thiện hoặc sửa chữa tài sản • Thuế và bảo hiểm
  • Sửa chữa và bảo trì (chi phí trên 1000 đô la để cải thiện tòa nhà có thể phải được ghi vào tài sản cố định),
  • Khấu hao của tài sản dùng để kinh doanh

Khấu hao đã được áp dụng lại cho các tòa nhà thương mại và công nghiệp từ năm tài chính 2020/21. Điều này không bao gồm cho cho thuê nhà ở nhưng có thể áp dụng cho nơi lưu trú ngắn hạn nếu được xem là thương mại. Nếu có bốn hoặc nhiều hơn các đơn vị riêng biệt trong cùng một tài sản và chúng được sử dụng cho lưu trú ngắn hạn (như Airbnb), việc khấu trừ cho khấu hao có thể được chấp thuận.

Ring-fencing of losses

Việc khóa lại các khoản lỗ của bất động sản nhà ở có thể hạn chế việc sử dụng các khoản lỗ thuê nhà để khấu trừ với thu nhập khác. Bạn có thể liên hệ với chúng tôi, để xác định tác động của các quy định này cho trường hợp cụ thể của bạn.

Thuế Giá trị gia tăng (GST)

Các tài sản bất động sản nhà ở được miễn thuế GST và do đó không có GST được tính trên tiền thuê nhà ở. Bạn không thể yêu cầu hoàn lại GST trên bất kỳ chi phí nào liên quan đến bất động sản nhà ở của bạn. Một lần nữa, cách xử lý cho chỗ ở ngắn hạn là khác biệt. Vui lòng liên hệ chúng tôi để biết thêm thông tin cho trường hợp cụ thể của bạn.

Cấu trúc kinh doanh đúng cho nhà ở cho thuế có thể rất quan trọng đối việc tối giảm thuế, không có một mô hình tối ưu cho tất cả các hoàn cảnh, vì vậy hãy nói chuyện với kế toán của bạn, để tìm ra mô hình tối ưu nhất.

 

Share Transfer vs Purchase of Business

Bạn chán cuộc sống làm công ăn lương, muốn xây dựng một thứ gì đó cho mình và con cháu sau này. Có hai lựa chọn chủ yếu cho bạn, trong trường hợp này:

  • Lập một công ty mới, xây dựng mọi thứ từ con số 0, bắt đầu từ những khách hàng đầu tiên. Con đường sẽ khá vất vả trong thời gian đầu, nhưng ưu điểm là không cần nhiều vốn và có khi còn xin được start up funding từ chính phủ. Mình sẽ nói thêm về phần này trong một bài khác.
  • Cách thứ hai là tìm một công ty đã hoạt động lâu năm (shop nails, nhà hàng, tiệm bánh, franchise etc), sau đó mua lại những công ty này. Ưu điểm là ngày đầu tiên làm chủ đã có thu nhập ổn định, còn khuyết điềm là bạn phải cần một số vốn khá lớn để bắt đầu.

Mua lại doanh nghiệp cũ lại chia ra làm hai cách chủ yếu: 1. Mua lai cổ phần từ chủ sở hữu cũ (Share Transfer), vẫn sử dụng tên công ty cũ. 2. Thành lập một công ty mới, sau đó mua lại tài sản (Purchase of business) của công ty đang hoạt động. Trong  bài viết hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu: Share Transfer vs Purchase of Business, lợi và hại từ góc nhìn của người bán (seller) và người mua (buyer)

Nhìn chung, cổ đông của một công ty hoạt động kinh doanh (seller) thường thấy việc bán cổ phần (share transfer) đơn giản hơn so với bán tài sản (sale of business). Từ quan điểm của người bán, bán cổ phần có nghĩa là khi thỏa thuận được thực hiện (settled), họ ngay lập tức nhận được tiền mặt từ việc bán cổ phần và không cần phải đối mặt với rắc rối trong việc giải thể công ty, sau đó mới nhận được tiền từ việc bán kinh doanh (sale of business).

Hơn nữa, việc bán kinh doanh (sale of business) có thể dẫn đến việc một phần thu nhập từ việc bán có thể chịu thuế (ví dụ:  thu nhập khôi phục giá trị tài sản cố định (depreciated recovery) etc), trong khi tất cả các số tiền phát sinh từ bán cổ phần thường không chịu thuế vì nó được coi là việc bán một khoản tài sản vốn.

Cuối cùng, việc bán cổ phần thường có nghĩa là mọi rủi ro kinh doanh hoặc thuế lịch sử liên quan đến công ty được chuyển sang người mua (trừ khi người bán cung cấp các bảo đảm hoặc bồi thường), điều này có thể giúp người bán thoát khỏi kinh doanh một cách sạch sẽ.

Từ quan điểm của người mua, thường người mua sẽ chọn mua kinh doanh thay vì mua cổ phần trong công ty hiện tại. Điều này chủ yếu là để họ không đối mặt với bất kỳ trách nhiệm tiềm ẩn nào có thể ẩn chứa trong công ty, tuy nhiên cũng có thể có những lý do khác. Ví dụ cụ thể, như một công ty mới thành lập, cần cung cấp nhiều thông tin hơn cho sở di trú so với một công ty lâu nắm (ví dụ business plan, cashflow forecast etc), nếu muốn trở thành accredited employers để tuyển lao động nhập cư. Vì vậy, người mua có thể cân nhắc chọn chuyển đổi cổ phần (share transfer) thay vì mua business, để tránh bị đứt gãy cung ứng lao động.

Khi mua business, người mua cần lưu ý đến các điều khoản trong hợp đồng thuê mặt bằng (lease agreement) vì đây là chi phí lớn nhất của một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhà hàng, quán ăn hay shop nails. Lease agreement được review bởi luật sư của bên mua.

Một điểm khá quan trọng, những người mới làm kinh doanh, thường ít quan tâm khi đi mua lại business. Đó là tỷ lệ chia giữa tài sản vô hình (intangible assets) và tài sản hữu hình (tangible assets) trên giá bán. Tỷ lệ giá bán (purchase price) phân bổ cho tài sản hữu hình (tangible assets) càng nhiều, thì càng có lợi về thuế trong dài hạn. Hãy nói chuyện với kế toán của bạn trước khi kí hợp đồng, để không bị mất đi những quyền lợi chính đáng của bạn.

Tuy nhiên, việc bán cổ phần (Share transfer) hoặc bán toàn bộ (hoặc chỉ một phần) của kinh doanh cơ bản sẽ là vấn đề đàm phán giữa các bên, Hãy thu thập nhiều thông tin nhất có thể, sau đó cân đối lợi và hại, để ra quyết định đúng đắn nhất.

Business Structure – Company

Tiếp tục loạt bài về Business Structure, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về mô hình phổ biến nhất Company.  Cần xác định, Company là một cá thể hay pháp nhân, và hoàn toàn độc lập với shareholders (cổ đông). Việc thành lập một Company khá là dễ dàng, bạn chỉ việc lên Companies Office Website đăng kí một cái tên mình thích, sau đó điền các thông tin cần thiết để thành lập công ty. Company được quản lý và vận hành dựa trên the Company Ac 1993, tuy nhiên bộ luật này không có quy định các thủ tục cần làm, khi một trong những cổ đông yêu cầu thoái vốn. Vì vậy, khi thành lập công ty, chúng ta nên có Constitution (tạm dịch là bộ quy tắc của công ty), để vào bất kì trường hợp nào cũng có hướng giải quyết.

Types of company

Có 3 kiểu công ty thường gặp:

–              Standard Company

–              Look-Through Company (LTC)

–              Qualifying Company (QC) (bây giờ đã được thay thế bởi LTC, đối với những công ty dạng này thành lập trước ngày 1 April 2021, chúng vẫn còn tồn tại)

Lợi nhuận (doanh thu – chi phí) của Standard Company hằng năm được đánh thuế ở mức cố định là 28% một năm. Trong khi đó, mức thuế của Look Through Company phụ thuộc vào mức thuế biên (marginal tax rate) của cổ đông (shareholder), vì tất cả lợi nhuận hay lỗ đều được chuyển cho cổ đông khi quyết toán thuế cuối năm.

Vì sự khác biệt này, Look Through Company rất phù hợp cho các start up, vì những công ty này thường lỗ khi mới thành lập, cổ đông sẽ được sử dụng khoản lổ này, để giảm thuế cá nhân phải trả (trừ trường hợp mua residental property, cho thuê và bị lỗ).

Directors

Mỗi công ty cần có ít nhất một giám đốc (Director), người là bộ mặt của công ty. Đưa ra những quyết định liên quan đến hoạt động của công ty.

The Companies Act 1993 có liệt kê những quy định, nghĩa vụ và trách nhiệm của Directors. Chúng ta nên tìm hiểu, trước khi trở thành Directors của một công ty nào đó.

Directors cần phải trung thực và hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông (shareholders). Nếu đi ngược lại những quy tắc này, Directors có thể bị kiện bởi Shareholders.

Shareholders

Shareholders (cổ đông) là người chủ sở hữu của công ty. Mỗi company thường phát hành một lượng shares (cổ phiếu) nhất định, và Shareholders là những người sở hữu những shares này, và qua đó sở hữu công ty. Có nhiều hình thức khác nhau cho shareholders, bao gồm: Individual, Partnership, Family trust hay một Company khác. Nếu Shareholders muốn thoái vốn tại Company, họ có thể bán shares thuộc sở hữu của mình cho người khác.

Lợi ích của Company

– Limitation of Liability (giới hạn nợ phải trả): đây là lợi thế lớn nhất của company so với các mô hình khác như sole trade hay partnership. Trong những trường hợp phổ biến, cổ đông (shareholders) chỉ phải chịu trách nhiệm cho phần nợ của công ty tương đương với vốn góp còn thiếu giữa cổ đông và công ty (Unpaid Share Capital). Trừ trường hợp cụ thề, cổ đông bảo lãnh nợ cho công ty với tư cách cá nhân (personal guarantee)

Đối với giám đốc (Director), họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm cho phần nợ của công ty tương đương với vốn góp còn thiếu giữa họ và công ty (Unpaid Share Capital) (trong trường hợp này, Director cũng là Shareholder). Ngoài ra, còn có ba trường hợp khác, Director sẽ phài trả nợ thay công ty: nợ đảm bảo bởi cá nhân director (personal guarantee), cho phép công ty hoạt động (trading) khi biết rằng công ty không có khả năng chi trả (insolvent) (lưu ý gần đây chính phủ bổ điều khoản ngoại lệ, vì lý do Covid, công ty tiếp tục trading khi không có khả năng chi trả (insolvent), thì Director không bị yêu cầu trả nợ thay). Trường hợp thứ ba, Director điều hành công ty một cách vô trách nhiệm (cẩu thả) (traded recklessly) (bị kiện bởi shareholders)

Làm Director cho một công ty không phải là một việc đơn giản. Vì vậy, cần tìm hiểu kĩ, để tránh các rủi ro sau này.

– Some tax advantages: Việc sử dụng công ty có thể sẽ đem lại những lợi ích về thuế, đặc biệt là khi Shareholders có thu nhập cao hơn $180k một năm (thuế cá nhân 39% vs thuế công ty 28%). Tuy nhiên, có hai việc cần phải lưu ý: 1. salaries từ công ty trả cho shareholders phải là market rate, 2. cần để ý đến attribution rules. Nếu không IRD có thể investigate bạn vì trốn thuế (tax avoidance).

-Flexibility in term of changing ownership: không giống như Sole Trader hay Partnership, việc đổi chủ sở hữu, tăng vốn, thoái vốn cho Company khá đơn giản. Chỉ việc thay đổi hay sang tên cổ phiếu. Tuy nhiên, cần lưu ý một số vấn đề về thuế hay imputation credits khi sang tên cổ phần công ty.

Bất lợi của Company

– Nhiều chi phí compliance hơn cho các hình thức khác như Sole Trade hay Partnership; ví dụ như hằng năm phải làm báo cáo tài chính và khai thuế cho công ty. Khi muốn xoá công ty, thủ tục cũng phức tạp và nhiều công đoạn hơn.

– Vì công ty và cổ đông là hai thực thể riêng biệt, việc chuyển tiền từ công ty sang cá nhân, cũng nhiều quy trình hơn so với sole trader. Nếu cổ đông rút tiền từ công ty nhiều quá, công ty sẽ xem đấy là khoản nợ giữa công ty và cổ đông. Sau đó tiền lãi sẽ được tính trên khoản nợ.

Disclaimer
Vina Accountant Limited has provided this article on the understanding that:
  1. The document is a guide only and should not form the sole basis for any decision without first obtaining proper professional advice.
  2. We will not be responsible for and expressly disclaim liability, whether under contract or negligence:
    • For the results of any use made by users of the article
    • For any errors or omissions in this article
    • For any direct or consequential loss or damage to arising from the use of this article, whether to a direct purchaser of this guide or to any other person who may borrow or use them
    • If any part of the guide, whether used in its original form or altered in some way by the user, proves invalid or does not attain the result desired by the user
    • For any negligence in the publication or preparation of this article
This disclaimer extends to the user and to any client of the user who suffers loss as a result of the use of this article.

Business Structure – Partnership

Hôm nay, chúng ta sẽ xem xét một business structure thứ 2 “Partnership”. Mô hình này không còn thực sự phổ biến tại thời điểm hiện tại, nhưng vẫn là một lựa chọn để chúng ta xem xét. Partnerhip là một bản nâng cấp của Sole Trader (mô hình chúng ta đã xem xét ở bài viết trước). Một cách dễ hiểu, partnership là tập hợp cùa nhiều sole trader với nhau, và cùng bán sản phẩm hoặc dịch vụ. Ví dụ điển hình là partnership giữa hai vợ chồng, hoặc partnership giữa hai người bạn.

Partnership agreement (thỏa thuận đối tác) không phải là yêu cầu bắt buộc khi hai hay nhiều người quyết định trở thành partner trong công việc. Vì partnership được quản lý bởi 1908 Partnership Act (một bộ luật quy tắc ứng xử chung về partnership được ban hành bởi chính phủ NZ).

Tuy nhiên, partnership agreement là cần thiết nếu hai đối tác không phải vợ chồng hoặc những thỏa thuận giữa hai đối tác khác với bộ quy tắc ứng xử chung 1908. Một ví dụ củ thể, bạn và một người khác quyết định thành lập một partnership, bạn góp vốn trong khi người kia góp công. Nếu không có partnership agreement, mà chỉ theo Act, lợi nhuận sẽ được chia 50/50 giữa bạn và đối tác. Nếu công việc không thuận lợi, doanh nghiệp bị lỗ, thiếu nợ với nhà cung ứng. Theo 1908 Partnership Act, mỗi người sẽ gánh một nửa số nợ nếu không có partnership agreement cụ thể.

Một lợi thế của của Partnership, tương tự như Sole Trader, rất dễ thành lập. Chỉ cần hai người bạn đồng ý với nhau thành lập partnership (không cần agreement như đã nói ở trên), không cần mở một bank account mới. Tuy nhiên, partnership cần một số IRD mới, thay vì dung số IRD cá nhân như trường hợp của sole trader. Partnership tax return sẽ được yêu cầu gửi cho IRD sau mỗi năm tài khoán, trong đó thể hiện lợi nhuận hoặc lỗ của partnership được chia như thế nào giữa các thành viên. Số taxable income/loss to carry này, sẽ được bao gồm vào thuế cá nhân của từng thành viên.

Partnership có một chút lợi ích về thuế so với Sole Trader, nếu thu nhập từ công việc kinh doanh lớn. Ví dụ, anh chồng làm sơn, cô vợ ở nhà trông con làm sổ sách giấy tờ, nhận job. Anh kiếm được 200k một năm. Nếu anh chồng là sole trader, thu nhập từ 181k trở lên sẽ phải đóng thuế 39%, tổng thuế phải trả là $58,120. Trong khi đó, nếu thành lập partnership (chồng và vợ), không có partnership agreement, cứ theo Act chia 50/50, mỗi người thu nhập sẽ là $100k một năm, thuế cá nhân vào khoảng $23,920 cho môt người. Tổng thuế phải trả của cà hai vợ chồng là $47,840. Tiết kiệm được $10,280 một năm nếu dung partnership thay vì sole trader.

Lơi thế thứ ba của Partnership so với Sole Trader, là khả năng tăng vốn để mở rộng sản xuất. Vì nhiều người tham gia, nên khả năng xoay vốn cũng dễ hơn so với Sole Trader.

Bây giờ, chúng ta sẽ tìm hiểu về một số điểm bất lợi của Partnership. Ông bà ta có câu, có phúc cùng hưởng và có họa cùng chia, câu này rất đúng cho Partnership, từ nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ví dụ cụ thể, bạn và một người bạn của mình hợp thành một partnership và không có partnership agreement. Bạn cung cấp vốn còn bạn kia bỏ sức. Nhưng không may, vì một sơ suất nào đó, bạn kia bị kiện về health and safety khi thực hiện hoạt động kinh doanh. Mặc dù bạn, không phải là người trực tiếp tham gia vào việc ấy, nhưng vì trong partnership, bạn sẽ phải chia sẻ hậu quả với partner của mình. Vì vậy, xin nhấn mạnh tầm quan trong của partnership agreement một lần nữa, nếu set up đúng, nó có thể giúp bạn tránh những thiệt hại không đáng có.

Một điểm bất lợi thứ hai là khi chúng ta muốn kết thúc partnership. Nếu một trong hai partner quyết định rút lui, partnership sẽ không còn tồn tại nữa. Bạn có hai lựa chọn là trở thành sole trader hoặc thành lập một partnership mới. Điều này có thể dẫn đến các hệ quả không hay về thuế, đặc biệt nếu chúng ta dùng partnership để đầu tư vào bất động sản thương mại (commercial property). Trong trường hợp này, khi partnership kết thúc. Tài sản có thể phải chuyển giao tại giá thị trường (market value). Nếu nhưng năm trước chúng ta khấu hao tài sản, thì nhiều khả năng, khi giao dịch tài sản tại giá thị trường chúng ta phải trả lại khoản khấu hao này (Depreciation Recovery). Một cái bill về tax không đáng có.

Hy vọng bài viết sẽ cho bạn một vài thông tin bổ ích về Partnership. Mong các bạn like và share facebook của Vina Accountant, để chúng tôi có động lực xem đến cho các bạn them nhiều bài viết (dịch) chất lượng.

Source: CCH and IRD

Business Structure – Sole Trader

Ông bà ta có câu “phi thương, bất phú”, kinh doanh buôn bán hay một nghề tay trái để kiếm thêm thu nhập là một việc làm rất phổ biến. Có lẽ, không ít lần bạn đã nghe loáng thoáng các tên như là: sole trader, company, partnership hay trust. Nhưng không thực sự hiểu rõ sự khác nhau giữa các mô hình kinh doanh (business structure), lợi thế và điểm yếu của từng mô hình. Vina Accountant sẽ thực hiên một loạt bài về các mô hình kinh doanh (business structure), để từ đó bạn có thể chọn được ra mô hình phù hơp nhất cho công việc kinh doanh của mình.
Sole trader là mô hình đơn giản nhất, khi bạn bán sản phẩm hoặc dịch vụ dưới tên cá nhân. Tất cả các quyết định kinh doanh được đưa ra bởi bạn và toàn bộ trách nhiệm liên quan đến công việc ấy cũng thuộc về bạn. Cuối mỗi năm tài khoán (financial year) (thường là từ 1 tháng 4 đến 31 tháng 3 của năm kế tiếp), bạn sẽ phải làm quyết toán thuế cuối cho cá nhân (IR3). Thuế lũy tiến (marginal personal tax rate) sẽ đánh trên tổng phần thu nhập trừ các chi phí liên quan đến.
Điểm lợi thế của sole trader là vô cùng đơn giản để set up, bạn không cần phải đăng kí hay báo cáo cho bất kì cơ quan nào về việc kinh doanh của mình. Chỉ trừ trường hợp, nếu ngành của bạn có những yêu cầu cụ thể (như an toàn thực phẩm, luật về người lao động nếu bạn tuyển người). Hoặc nếu bạn cảm thấy hoạt động kinh doanh của mình có khả năng hoặc đã vượt mức doanh thu $60,000 một năm, thì bạn được yêu cầu phải đăng kí GST. Dưới hình thức sole trader, bạn không phải đăng kí số IRD mới mà sử dụng luôn số IRD cá nhân. Vì thế tiền làm sổ sách (compliance cost) là rất ít hoặc bằng 0, vì bạn có thể tự làm.
Ngoài ra, khi bạn muốn dừng công việc kinh doanh, thủ tục cũng vô cùng đơn giản. Tất cả những gì cần làm là khai thuế cá nhân cuối năm (bao gồm lợi nhuận kinh doanh năm đó) và deregister GST (nếu bạn đăng kí GST trước đó). Vì việc mở và đóng vô cùng đơn giản, sole trader cực kì phù hợp cho những ai muốn thử nghiệm những ý tưởng kinh doanh mới, sau một thời gian nhất định, nếu ý tưởng thành công hoặc có nhiều triển vọng, bạn có thể xem xét nâng cấp nên một mô hình mới phức tạp hơn, lý do là vì một số bất lợi của của sole trader mình sẽ nói ở bên dưới.
Sự đơn giản của sole trader nhiều khi không đem lại lợi ích tối đa về mặt thuế. Thếu lũy tiến cá nhân (personal marginal tax rate) quy định, phần thu nhập trên $48,000 sẽ đánh thuế ở mức 30%, từ $70,000 đến $180,000 đánh ở mức 33% và từ mức $180,000 trở lên đánh ở mức 39%. Trong khi đó, nếu so sánh với mô hình (Company), thuế luôn ở mức 28% một năm. Vì vậy nếu thu nhập từ công việc kinh doanh của bạn từ $48,000 trở lên, bạn nên xem xét các mô hình khác phức tạp hơn cụ thể là company.
Unlimited liability (nợ không giới hạn) được xem là bất lợi lớn nhất của mô hình sole trader, có nghĩa là, cá nhân bạn phải chịu trách nhiệm toàn bộ và không giới hạn cho các hoạt động kinh doanh. Khi việc không may xảy ra, bạn có thể phải bán tài sản cá nhân như nhà và xe để trả nợ. Ví dụ cụ thể như, nếu bạn bán đồ ăn, không may người ăn bị ngộ độc thực phẩm. Họ quyết định kiện và đòi bồi thường. Bạn có thể phải bán tài sản cá nhân để settle vụ kiện. Hoặc nếu bạn nợ tiền mua hàng và không có khả năng chi trả, chủ nợ biết bạn có tài sản, họ có thể yêu cầu tòa bán tài sản cá nhân của bạn để trả nợ.
Điểm bất lợi thứ ba của sole trader là khó cho việc gọi thêm vốn hoặc thoái vốn. Ý tưởng kinh doanh của bạn có thể hay, nhưng không đủ vốn để làm. Nếu là company, bạn có thể bán cổ phần hoặc phát hành thêm cổ phiếu nếu có người muốn đầu tư thêm. Ngược lại, khi muốn thoái vốn, sole trader không cho bạn lựa chọn này.
Hy vọng bài viết cho bạn một vài thông tin hữu ích, với tư tưởng “Start Small, Finish Big”. Sole Trader sẽ phù hợp trong một giai đoạn nhất định, hiểu rõ từng mô hình, sẽ giúp bạn phát triển và bảo vệ thành quả của mình một cách hiệu quả nhất.