Business performance benchmarker in New Zealand

Benchmark ratios data source

Có thể bạn không để ý, nhưng khi khai thuế cuối năm cho doanh nghiệp. Chúng ta thường phải khai form IR10. Sở thuế dùng form IR10 để thu thập các thông tin tài chính quan trọng của một doanh nghiệp bất kì với lượng doanh thu từ $60,000 đến $10 triệu đô.

Nhưng thông tin này sau đó được sắp xếp theo từng ngành cụ thể. Bằng các phương pháp xác suất thông kê, Statistic NZ sẽ đưa ra các chỉ số chuẩn (benchmark ratios) cho từng ngành. Mỗi benchmark ratio sẽ thể hiện tình trạng sức khỏe của doanh nghiệp ở một khía cạnh khác nhau. Thường thường, mỗi benchmark ratio sẽ có ba chỉ số: median, min (25th percentile) and max (75th percentile).

Trong thống kê, nếu doanh nghiệp bạn đạt được chỉ số median, điều ấy có nghĩa có khoảng 50% doanh nghiệp cùng ngành có chỉ số cao hơn công ty bạn và cũng có khoảng 50% doanh nghiệp cùng ngành có chỉ số thấp hơn công ty bạn.

Nếu công ty của bạn đạt 25th percentile, điều ấy có nghĩa có đến 75% công ty cùng ngành có chỉ số cao hơn công ty bạn.

Nếu công ty bạn đạt 75th percentile, điều ấy có nghĩa chỉ có 25% các công ty cùng ngành có chỉ số cao hơn công ty bạn.

Thường các chỉ số nằm trong khoảng 25th percentile và 75th percentile được xem là bình thường hay mặt bằng chung. Vì vậy, các công ty có các chỉ số nằm ngoài vùng này, được xem là outliers (đặc biệt xuất sắc hoặc đặc biệt tệ).

Ví dụ cụ thể, nếu Salaries and wages / turnover ratio của công ty bạn cao hơn 75th percentile trong cùng một ngành, chứng tỏ. Bạn trả rất nhiều tiền nhân công, nhưng thu nhập lại không cao bằng các công ty cùng ngành. Có thể có nhiều lý do, nhưng một trong lý do đó là công ty bạn không declare thu nhập từ cash. Bên dưới là benchmark ratio cho ngành sơn.

Bạn có thể tìm Benchmark ratio cho những ngành khác ở đường link bên dưới:

https://www.stats.govt.nz/experimental/business-performance-benchmarker

Những phần tiếp theo của bài viết, sẽ hướng dẫn các bạn tính các chỉ số phổ biến và ý nghĩa của từng chỉ số Benchmark. Từ đó các bạn có thể tính được các chỉ số này cho công ty của mình, và so sánh với Benchmark ratio. Từ đó có hướng đi cải thiện hoạt động của công ty đang sở hữu.

a) Một số khái niệm dữ liệu tài chính

Income – Thu nhập

Tổng của tất cả thu nhập từ hoạt động kinh doanh (operating income) và thu nhập từ các hoạt động khác (non-operating income).

Expenditure – Chi phí

Tổng của tất cả chi phí từ hoạt động kinh doanh (operating expenditure) và chi phí từ các hoạt động khác (non-operating expenditure).

Profit – Lợi nhuận

Tổng thu nhập trừ tổng chi phí cộng với sự thay đổi trong hàng tồn kho.

Assets -Tài sản

Tất cả các tài sản ngắn hạn (current assets), tài sản cố định (fixed assets) và các tài sản dài hạn (non-current assets) của bạn.

b) Định nghĩa của một số benchmark ratio

Gross profit ratio – Biên lợi nhuận gộp/tỷ suất lợi nhuận gộp

Được tính bằng cách lấy lợi nhuận gộp (gross profit) chia cho tổng doanh thu (total sales) của hàng hóa và/hoặc dịch vụ.

Lợi nhuận gộp thể hiện có bao nhiêu đồng lợi nhuận được tạo ra sau khi trừ đi giá vốn hang bán (cost of goods sold – những chi phí trực tiếp liên quan tới việc sản xuất hàng hóa và vật tư như hàng tồn kho). Biên lợi nhuận gộp thể hiện lợi nhuận gộp bằng bao nhiêu phần trăm của doanh thu từ bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Tỷ suất lợi nhuận gộp thay đổi theo ngành và lĩnh vực kinh doanh. Tỷ suất lợi nhuận gộp càng cao thì doanh nghiệp càng hoạt động hiệu quả. Tỷ suất lợi nhuận gộp thấp có thể cho thấy rằng một doanh nghiệp đang tính giá bán quá thấp cho các sản phẩm và dịch vụ của mình hoặc đang phải trả quá nhiều cho nguồn cung cấp hàng hóa và hàng tồn kho.

Lưu ý: Tỷ suất lợi nhuận gộp chỉ được tính cho các ngành sản xuất, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ ăn uống, vì những ngành này thường có hàng tồn kho khi kinh doanh.

Stock/inventory turnover per annum – Vòng quay hàng tồn kho hàng năm

Tính bằng:

Stock turnover, thể hiện số lần trong một năm mà hàng tồn kho bán hết rồi được mua thêm để thay thế chỗ hàng đã bán. Stock turnover cao thể hiện một hoặc nhiều điều sau:

  • một mô hình kinh doanh với khối lượng hàng lớn, markup thấp (markup = selling price – cost)
  • doanh nghiệp đang nắm giữ lượng hàng tồn kho rất thấp
  • công việc kinh doanh bị hao hụt nhiều

Stock turnover thấp thì thể hiện một trong những điều sau:

  • mô hình kinh doanh có khối lượng hang thấp, markup cao
  • quá nhiều tiền của doanh nghiệp đang bị giữ dưới dạng hàng tồn kho
  • doanh nghiệp đang giữ một lượng lớn hang hóa lỗi thời hoặc không bán được

Lưu ý: Vòng quay hang tồn kho chỉ được tính cho các ngành sản xuất, bán buôn, bán lẻ và dịch vụ ăn uống, vì những ngành này thường có hàng tồn kho khi kinh doanh.

Salaries and wages / turnover ratio – Tỷ lệ tiền lương và tiền công trên tổng doanh thu

Tính bằng tiền công và tiền lương chia cho tổng doanh thu ( = doanh thu từ hoạt động bán hàng và/hoặc doanh thu từ cung cấp dịch vụ + tiền lãi nhận được + cổ tức nhận được + tiền cho thuê + thu nhập khác).

Tỷ lệ này cho biết bao nhiêu phần trăm của tổng doanh thu được chi cho chi phí nhân công. Nó có thể là một chỉ báo cho việc doanh nghiệp có đang dùng quá nhiều hoặc quá ít tổng doanh thu của nó cho chi phí nhân công hay không.

Return on total assets – Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản

Tính bằng lợi nhuận chịu thuế trong năm chia cho tổng tài sản.

Tỷ số này biểu thị tỷ lệ giữa thu nhập ròng với tài sản. Nó kiểm tra hiệu quả của việc đầu tư vào tài sản và cách doanh nghiệp chuyển giá trị từ tài sản sang thu nhập ròng. Tỷ suất này càng cao đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sử dụng tài sản càng hiệu quả. Tỷ suất này càng thấp, hoặc bị âm (lỗ), doanh nghiệp sử dụng tài sản càng kém hiệu quả.

Return on equity – Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu

Tính bằng lợi nhuận chịu thuế trong năm chia cho tổng vốn góp bởi chủ sở hữu hoặc cổ đông.

Tỷ suất này thể hiện tỷ lệ lợi nhuận thu được trên vốn chủ sở hữu và các khoản đầu tư. Nó đo lường hiệu quả của doanh nghiệp trong việc chuyển vốn chủ sở hữu (tài sản trừ đi nợ) thành lợi nhuận. Tỷ suất này càng cao thì doanh nghiệp sử dụng vốn càng hiệu quả. Tỷ lệ này càng thấp hoặc âm (lỗ) thì doanh nghiệp càng kém hiệu quả trong sử dụng vốn chủ sở hữu.

Current ratio – Tỷ số thanh toán hiện hành

Tính bằng tổng tài sản ngắn hạn chia cho tổng nợ ngắn hạn.

Tỷ số này thể hiện tỷ lệ giữa tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn và cho thấy khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Tỷ số nhỏ hơn 1 cho thấy rằng nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản ngắn hạn và doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của mình. Tỷ số lơn hơn 1 có nghĩa là một doanh nghiệp sẽ có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của mình. Khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn thường phụ thuộc vào mức độ thanh khoản của tài sản ngắn hạn.

Quick ratio – Tỷ số thanh toán nhanh

Tỷ số thanh toán nhanh, còn được gọi là thử nghiệm axit, rất giống với current ratio, nhưng không bao gồm hang tồn kho. Nó kiểm tra khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của một doanh nghiệp từ các tài sản có thể chuyển đổi ngay lập tức hoặc có thể thanh khoản (tức là các tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt, chẳng hạn như tiền nợ, tiền trong ngân hàng hoặc tiền mặt tại quỹ). Tỷ lệ cao hơn 1 có nghĩa là doanh nghiệp có thể thanh toán các khoản nợ ngắn hạn ngay lập tức hoặc trong một khoảng thời gian rất ngắn. Nếu tỷ lệ này rất cao, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp có ít nợ ngắn hạn hoặc tài sản thanh khoản / tiền mặt rất cao. Tỷ lệ thấp hơn 1 có nghĩa là một doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong thanh toán tất cả các khoản nợ ngắn hạn.

Liability structure – Cơ cấu nợ

Tỷ lệ này thể hiện vốn chủ sở hữu dưới dạng một phần trong tổng của vốn chủ sở hữu và nợ. Tỷ lệ này thấp cho thấy tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong doanh nghiệp thấp, tỷ lệ cao thể hiện vốn chủ sở hữu chiếm phần lớn và chủ nợ sẽ có ít rủi ro hơn.

Source: Statistic NZ